 Từ ẩn sĩ đến tử đạo
Khởi đầu là vị ẩn tu, kết thúc là vị tử đạo. Hai hình ảnh như có vẻ khác biệt nhau. Nhưng đối với thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, điều quan trọng đâu có phải là hình ảnh, là lối sống, mà chính là NIỀM TIN : Thiên Chúa là tất cả. Lối sống có thể thay đổi nhưng niềm tin mới là nền tảng chính yếu. Chính niềm tin đó đã dẫn dắt cuộc đời Phaolô Tịnh, từ một vị ẩn sĩ trở thành một vị linh mục nhiệt thành truyền giáo, một giáo sư tận tụy và sau cùng đến phúc tử đạo vinh quang.
Rừng vắng và sứ mạng
Phaolô Lê Bảo Tịnh sinh năm 1793 tại xã Trinh Hà, huyện Hoàng Hoá, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, là con thứ ba trong gia đình công giáo. Năm 12 tuổi cậu vào ở với cha Duệ xứ Bạch Bát, sau ba năm cậu được cha gởi đi học tại chủng viện Vĩnh Trị (Nam Định). Trong chủng viện cậu là một chủng sinh gương mẫu. Trí khôn bình thường nhưng cậu hơn hẳn anh em về sự chăm chỉ, về tinh thần đạo đức, hãm mình, cậu ăn chay các ngày thứ sáu, đánh tội và nằm đất. Khuynh hướng sống khổ hạnh là bước đầu dẫn đến ý định ẩn tu của thày Tịnh.
Có thể nói Lê Bảo Tịnh là một con người mến yêu Thiên Chúa triệt để. Thày đã cương quyết hiến dâng cuộc đời cho Chúa. Thày đã chọn Chúa và thể hiện điều ấy cách trọn vẹn. Chính vì thế thày tích trữ cơm khô, âm thầm rời bỏ chủng viện vào sâu trong rừng vắng để có dịp cầu nguyện và kết hiệp mật thiết đối với Thiên Chúa bằng đời sống khắc khổ trong cô tịch.
Thế nhưng đâu phải ai cũng có quyền sống đạo đức theo ý riêng. Thiên Chúa mời gọi con người cộng at1Chúa vào công trình cứu chuộc của ngài, thì chính ngài xếp đặt công việc cho họ. Chính vì vậy Đức Cha Longer Gia đã chỉ thị cho các cha trong giáo phận : "Nếu thày Tịnh đến xưng tội, không linh mục nào được quyền giải tội, phải bảo thày đến gặp Đức Cha ngay".
Và vị ẩn sĩ đạo đức ấy đã tìm ra ý Chúa qua vị Giám Mục. Một năm trời quen với rừng sâu, giờ đây thày phải từ giã để đón nhận những hy sinh mới, những công tác mà Giáo Hội đang cần đến thày.
Vị tông đồ đất Lào
Để chuẩn bị cho những công tác lớn lao hơn, Đức Cha cho thày Tịnh về tiếp tục học thần học, lãnh các chức nhỏ, đồng thời tiếp tục dạy học. Đức Cha Havard Du, kế vị Đức Cha Gia, cử thày sang Macao để nhận những khoản trợ cấp cho giáo phận. Hai chuyến đi trong hai năm, đồng thời cũng là hai lần thoát chết khỏi tay cướp biển và giông tố.
Năm 1837, Đức Cha đề ra chương trình truyền giáo tại Lào, thày Tịnh đã hăng hái lên đường. Sau một năm hoạt động thấy việc tiến triển tốt đẹp, thày trở về giáo phận xin Đức Cha phái thêm người đi truyền giáo. Thế nhưng tình hình trong nước đã thay đổi. Thi hành lệnh vua quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh lúc đó ra lệnh cấm đạo gắt gao. Cha Mai Năm, ông Trùm Đích, ông Lý Mỹ bị bắt và tử đạo, chủng viện Vĩnh Trị phải đóng cửa, Đức Cha cha Du phải ẩn lánh và qua đời ngày 05-07-1838. Đức Cao chịu tử đạo không kịp nhận nhiệm vụ. Vì vậy đoàn truyền giáo ở Lào phải dừng lại và trở về nước, chuẩn bị nhận công tác mới.
Vào tù lần thứ nhất và lưu đày
Đức Cha Retordd Liêu, người kế vị Đức Cha Du, cử thày Tịnh đi dạy giáo lý tân tòng tại làng Thạch Tổ, xứ Bích Trì, tỉnh Hà Nam. Cuối năm 1841, Lý trưởng làng Thạch Tổ đã rình bắt được thày Tịnh. Giáo hữu đem tiền nộp quan mong chuộc được thày, nhưng thày tỏ ra khí khái nói với quan : "Nếu chỉ có tiền mà tha thì tôi không muốn".
Thế là thày Tịnh bị giải về Tuần phủ Hà Nam, rồi lên Hà Nội. Ở đâu con người mảnh khảnh ấy, với y phục thô sơ, luôn đi chân đất, cổ đeo gông nhưng tâm hồn chính trực và cương quyết. Các vị quan hùng hổ nhưng không thể nào khuất phục nổi. Họ chỉ còn cách là đệ án về kinh xin trảm quyết. Nhưng rất may, khi vua Thiệu Trị lên ngôi, bầu khí ác cảm với đạo đã giảm đi. Sáu lần quan đệ án vào kinh, cả sáu lần không được chấp thuận, để đến lần thứ bảy chuyển thành án lưu đày chung thân ở Phú Yên (Bình Định).
Trên đường lưu đày, người có thân hình mảnh mai nhưng tâm hồn cương nghị ấy, luôn chứng tỏ lòng trung thành quả cảm với chân lý đức tin mình đang theo. Thày đã mạnh liệt phản đối khi người ta gọi "Gia Tô tả đạo", đồng thời giải thích với mọi người về tôn giáo của mình.
Thời gian phát lưu không lâu thì vua Thiệu Trị băng hà (04-11-1847). Vua Tự Đức lên kế ngôi và ban ân xá, giải phóng tù nhân. Trở về giáo phận trong niềm vui khôn xiết của nhiều người, thày Tịnh vâng lời Đức Cha lãnh chức linh mục, khi đã 56 tuổi. Khoảng một năm sau, vị tân linh mục được giữ chức giám đốc kiêm giáo sư chủng viện Vĩnh Trị. Nhờ trước đây đã từng là ân nhân chữa bệnh đau mắt cho quan Tổng Đốc Nam Định Nguyễn Đình Hưng, nên cha giám đốc đã xin được giấy phép cho chủng viện hoạt động một cách bán công khai, dưới hình thức một trường dạy chữ Nho và thuốc.
Chân dung cha Phaolô Tịnh
Thoạt nhìn người ta có thể nhận thấy Phaolô Tịnh là một linh mục có thân hình dong dỏng cao gầy guộc, dáng vẻ đạo mạo, khắc khổ. Nhưng chỉ những ai gặp gỡ cha mới nhận ra đó là một vị linh mục đầy lòng nhân ái, giản dị, khôn ngoan, từng trải. Có lẽ những bước thăng trầm đây đó cùng với số tuổi khá cao khi lãnh chức linh mục, đã ảnh hưởng tới nhiều cuộc đời tông đồ của cha. Ngài tận dụng thời giờ thật khít khao, cốt sao đạt được ích lợi tối đa. Trong những năm tháng đảm nhiệm chủng viện Vĩnh Trị với bao công việc, thế mà giám đốc vẫn thu xếp được thời giờ để viết lách. Ta có thể kể những tác phẩm của cha :
- Phúc âm dẫn giải
- Giáo lý đại cương
- Và Lục vấn lương tâm : gồm những lời khuyên thực hành để giúp xa lánh tội trọng và dọn mình chết lành.
Trong khi hướng dẫn chủng sinh, cha thường khuyên các thày phải giữ kỷ luật, vì chính cha đã có kinh nghiệm sâu sắc : Kỷ luật là ân nhân giúp thể hiện lòng mến Chúa, nâng đỡ đời tu. Đàng khác cha còn chú tâm huấn luyện chủng sinh về đời sống cầu nguyện. Theo cha một nhà truyền giáo mà không quý trọng việc cầu nguyện thì lời giảng sẽ không có sức thuyết phục. Lúc này, tuy không còn trực tiếp coi sóc các giáo hữu, nhưng cha Tịnh rất siêng năng giải tội, giúp đỡ các tâm hồn hòa giải với Chúa. Một khía cạnh khác trong đời cha Phaolô Tịnh là lòng yêu mến Thánh Giá. Bất cứ nơi nào cha đã từng sống, đều có bóng dáng của cây Thập Giá. Sau này, khi bị bắt các quan thấy cha có nhiều cây Thập Giá quá, liền kháo nhau : "Ông cụ này nghiện Thánh Giá".
Đúng vậy, không phải cha "nghiện" Thánh Giá bằng cách dựng thánh giá khắp nơi, nhưng vì lòng tôn kính cuộc tử nạn Chúa Kitô, đồng thời ao ước sống cuộc đời Thánh Giá, mong muốn mình được góp phần vào dòng máu của Thày Chí Thánh đã đổ ra để cứu chuộc trần gian. Lòng yêu mến ấy đã bộc lộ qua nếp sống thật nhiệm nhặt, cả khi còn làm thày sống ẩn tu, cũng như khi làm cha giám đốc chủng viện. Bữa ăn thường nhật của cha là vài chén cơm với chút nước mắm và đĩa rau xanh. Cha thường ngủ nghỉ dưới đất, ít khi chịu nằm giường. Thân xác cha hao mòn, nhưng bên trong vẫn chứa đựng một tâm hồn mãnh liệt, một trí thông minh sắc sảo.
Cha sống nhiệm ngặt đến quên thân mình, nhưng lại lo lắng cho người khác. Cha thường thăm viếng, an ủi, ban các bí tích, giúp đỡ người nghèo, nhất là các bệnh nhân, kể cả những người bị bệnh nan y như phong cùi. Có thể nói cha Lê Bảo Tịnh đã tử đạo ngay trong cuộc sống, trước khi được phúc thực sự đổ máu vì đức tin trung kiên.
Bị bắt lần thứ hai
Năm 1857, hai cha Kỳ và Hảo về tổ chức lễ tại nhà thờ Phát Diệm. Dịp này, ngoài thánh lễ còn có những cuộc rước long trọng. Biến cố rầm rộ này bị báo cáo xuyên tạc với viên quan Ninh Bình rằng : "Cụ đạo khao quân". Quan quân liền kéo về Phát Diệm vây bắt, nhưng hai cha Kỳ và Hảo đã về Vĩnh Trị rồi, nên họ gửi giấy yêu cầu quan Nam Định đi bắt hai linh mục đó. Quan Tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Hưng vẫn còn nhớ ân tình với cha Lê Bảo Tịnh (vị ân nhân đã chữa mắt cho mình), nên đã cố gắng ngăn cản nhưng không được. Kế hoạch vây bắt được ấn định vào ngày 27-02-1857 do quan phủ Nghĩa Hưng chỉ huy.
Trong khi đó, quan tổng đốc đã nhờ người báo tin cho cha Tịnh ở Vĩnh Trị, nhưng vì người đó bất ưng bị bệnh nặng không đi báo được, bên chủng viện Vĩnh Trị vẫn sinh hoạt bình thường khi quan quân vây kín làng. Sau mấy phút hội ý, Đức cha Liêu và các cha đồng ý chạy trốn, chỉ để một mình cha Tịnh ở lại đối phó, với hy vọng tránh được những tàn phá. Cha Tịnh bình tĩnh mời quan phủ Nghĩa Hưng và ông Phán Trứ vào phòng uống nước, rồi trình bày giấy phép của quan Tổng Đốc. Tuy nhiên vì trong nhà có nhiều đồ "quốc cấm" như sách La tinh, đồ lễ và nhiều vật dụng khác từ nước ngoài gửi đến, nên quan phủ cho lập biên bản, và yêu cầu cha Tịnh ra tỉnh để điều tra thêm.
Trước khi đi, cha Tịnh vào nhà thờ cầu nguyện và giã từ các chủng sinh, những người con yêu quý nhất của cha. Đức cha Liêu có tìm cách chuộc lại cha Tịnh trước khi bị giải lên tỉnh, nhưng không thành công. Đức cha liền cho người báo trước với quan Tổng Đốc để nhờ quan lo liệu. Hôm sau, ông Phán Trứ giải cha Tịnh ra tỉnh. Tờ giấy phép mà quan Tổng Đốc cấp cho cha Tịnh đả đưa ông vào thế kẹt. Các quan khác nghĩ ông đã nhận được một khoản tiền khá lớn…
Quan Tổng đốc lâm vào tình thế khó xử. Ông biết rõ cuộc đời, thân thế của cha Tịnh, thế mà chính quan Thượng Hưng lại là người hỏi cung cha. Trước tòa, quan không gạn hỏi gì cả, chỉ xin cha quá khóa thì sẽ tha về. Nhưng cha Tịnh với tư cách một linh mục làm sao có thể chấp nhận lời đề nghị ấy.
Năm ngày sau, cha Tịnh lại được đưa ra trước công đường. Cũng một câu hỏi và cũng một lòng son sắt đó. Khi được lệnh viết lại bản lý lịch, cha vẫn xác nhận mình là linh mục. Quan Thượng Hưng khuyên cha không nên viết thế, chỉ nên khai là giáo hữu chuyên dạy chữ nho và làm thuốc mới hy vọng thoát khỏi án chết. Đáp lại, cha cám ơn lòng tốt của quan, vẫn giữ y lời khai vì cho đó là một vinh dự lớn lao. Cha sẵn sàng chịu đựng tất cả là vì vinh dự ấy. Lần cuối cùng, quan Thượng Hưng tìm cách cứu gỡ vị ân nhân của mình. Chính tay ông viết bản án và điền thêm ở dưới :
"Xét rằng Lê Bảo Tịnh đã ngoài 60 tuổi, chiếu theo luật nước, không nên xử tử những người già nua tuổi tác như thế, xin cứ giam ở Nam Định và cứ giữ ở đó là tiện nhất".
Linh hồn tôi thuộc về Chúa
Trong khi chờ đợi vua trả lời về bản án, cha Tịnh bị giam ở Trại Vệ. Với cha, 37 ngày sống tại đây là cơ hội để cha củng cố đức tin cho các anh em yếu đuối, tìm cách liệu cho họ lãnh được lương thực tinh thần cũng như những trợ giúp về vật chất. Nhờ đó, họ thêm can đảm làm chứng cho Chúa trong những giây phút bi thương nhất. Về phần cha, đây là dịp chuẩn bị lần cuối để xứng đáng với diễm phúc tử đạo mà cha hằng ao ước. Cha sửa soạn cho giờ phút đó một cách đều đặn bằng việc đọc kinh nguyện ngắm. Chính khi củng cố lòng can đảm nơi người khác, cũng là lúc cha củng cố lòng mình. Trong những ngày này, cha không thể nào quên được đoàn con thân yêu ở chủng viện Vĩnh Trị. Trước khi bị xử án 12 ngày, cha viết cho các chủng sinh một tâm thư rất cảm động và chan chứa những tư tưởng đạo đức.
Ngày 05.04.1857, án ra tới tỉnh, người hồi hộp nhất là quan Tổng đốc. Vua cải án giam thành án tử hình trảm quyết. Nhận được bản án, quan Thượng cố gắng một lần chót bằng cách khuyến dụ cha Tịnh xuất giáo. Nhưng làm sao cha lại chấp nhận ? Cả một đời đã tận tụy với Thiên Chúa, cả một đời khát khao mong chờ diễm phúc lớn lao này, đến nay sắp được toại nguyện, lẽ nào lại bỏ đi ? Cha từ tốn đáp lại lời quan :
"Tôi xin chân thành cám ơn quan, vẫn luôn có lòng tốt tìm cách cứu tôi. Thân xác tôi ở trong tay quan, xin làm khổ nó tùy ý, tôi rất vui lòng, không oán than gì. Nó chết đi nhưng mai ngày sẽ sống lại trong vinh quang. Còn linh hồn tôi là của Thiên Chúa, không có gì làm tôi hy sinh nó được, không ai có thể lay chuyển lòng tin tưởng của tôi. Đạo Thiên Chúa là chính đạo, là đạo thật, tôi yêu mến và giữ đạo ấy từ thuở bé, và dù tôi có chết cũng chẳng bỏ được".
Lời khẳng khái ấy phát sinh từ quyết định thật can đảm và sáng suốt. Quyết định lựa chọn cái chết một cách hiên ngang, vì tin chắc rằng mình sẽ được sống muôn đời (Ga 12, 25).
Vĩnh phúc ấy, cha Phaolô Lê Bảo Tịnh đã đạt được ngày 06.04.1857 tại pháp trường Bảy Mẫu (Nam Định) trong lời từ biệt gởi tới mọi người : "Anh em ở lại bình an, chịu khó giữ đạo và can đảm bền vững, đừng sợ chết nhé".
Đức Piô X đã suy tôn cha Phaolô Lê Bảo Tịnh lên bậc Chân Phước ngày 02.05.1909. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
ÐƯỜNG NÊN THÁNH CỦA THÁNH LÊ BẢO TỊNH
Nếu cứ theo câu nói trông mặt mà bắt hình dong thì ngài chẳng có vẻ gì là thánh thiện. Khi còn nhỏ học trong tràng Latinh ngài rất nghịch. Ngài thông chữ Nho và lý sự nhưng chữ viết thật xấu. Hình dáng cao rong rỏng và gầy guộc khô khẳng, lại ăn vận đơn sơ áo vải nâu sòng nên trông không hấp dẫn được ai. Thế nhưng nhờ việc say mê đọc sách mà ngài được Chúa soi sáng hướng dẫn đến đỉnh cao trọn lành. Ðường nên thánh của ngài có thể tóm tắt trong những điểm sau:
1. Ao ước nên thánh
Lúc Thầy Tịnh đang học làm kẻ giảng thầy thích xem truyện các thánh tu rừng, và vì muốn bắt chước các thánh tu rừng, nên thầy đã lôi kéo được một thầy bạn cùng nhau bỏ mọi sự thế gian vào rừng tu hành cho được dễ dàng cầu nguyện, và rỗ
(thiếu một đoạn)
chuẩn bị mỗi bữa ăn Thầy Tịnh nắm cơm đem phơi khô. Khi học xong thầy thuê người gánh đồ lên rừng Bạch Bát, còn thầy bạn thối lui bỏ cuộc. Sau một ngày đàng thầy trò dừng lại nghỉ đêm giữa rừng, khi người gánh thuê ngủ thì Thầy Tịnh quì gối suy gẫm đến nỗi hùm đến bên cũng không hay. Khi tìm được hang đá ưng ý, Thầy Tịnh cho người gánh thuê đi về còn mình ở lại tu trì, hằng ngày đọc kinh cầu nguyện và cuốc đất trồng ngô. Trải qua hai mùa, gần một năm thì đến lễ Phục Sinh thầy muốn về đồng bằng để xưng tội. Lối xưng tội của thầy đã làm cha giải tội của thầy đoán ngay là Thầy Tịnh, và vì có lệnh đức cha cấm không được giải tội cho thầy, nên ngài bắt thầy phải về trình diện đức cha. Thế là Thầy Tịnh phải vâng lời.
Khi làm cha coi trường Kẻ Vĩnh, Cha Tịnh thường nói đến đời sống thánh thiện của học trò ngày trước: Ðời ấy học trò sốt sắng, hay ăn chay cùng đánh tội các ngày thứ Sáu. Có kẻ ra vườn chè nguyện ngắm cả đêm, có kẻ mùa rét không nằm trên giường nhưng cởi trần nằm dưới gầm. Ðến mùa hè thì nằm trên giường chịu nóng bức. Khi bị bắt giam lần thứ nhất lúc còn làm thầy, Cha Tịnh viết thư về thăm các chú khuyên nhủ: "Tôi hằng cầu nguyện cho anh em được tập đi đàng nhân đức, được ở khiêm nhường, chịu khó hãm mình hãm xác thịt, được giữ lòng sạch sẽ, ở hòa thuận thương yêu nhau, mến sự học hành, nhất là kính mến Ðức Chúa Giêsu trên hết mọi sự và trông cậy rất thánh Ðức Bà cách riêng. Xin anh em nhớ cầu cho tôi được vững vàng theo thánh ý Chúa, được chịu khó cho đến giờ sau hết và được thắng trận toàn công".
2. Yêu mến và trông cậy Thánh Giá
Cha Thánh Tịnh có lòng trọng kính thánh giá ngay từ thuở nhỏ. Khi làm thầy đi giảng đạo ở Lào, trước khi tới nơi, thầy bị sốt rét giữa rừng nên phải nằm lại ngay lối hùm beo đi qua. Người bõ giúp việc sợ hãi thì Thầy Tịnh bảo ông đi chặt hai cây nứa làm bốn cây thánh giá cắm chung quanh rồi ngủ đêm. Sáng hôm sau chung quanh có vết chân hùm chằng chịt. Khi coi trường Kẻ Vĩnh, Cha Tịnh xin đức cha dựng thánh giá ở con đường đi bách bộ và gọi là đàng thánh giá. Thầy Triêm tức cụ Trần Lục phải lo tổ chức. Hôm lễ nghi dựng thánh giá, Thầy Triêm lo giữ trật tự, và xếp một quan viên vào việc vác thánh giá. Xong việc Cha Tịnh quở trách: "Tại sao để bổn đạo vác thánh giá, lẽ ra người nhà thầy phải vác chứ, vì làm như thế người nhà thầy xem ra thẹn chẳng dám vác thánh giá Chúa Giêsu". Gần nhà trường có làng cùi và có nhà nguyện thánh giá. Cha Tịnh cũng đóng thánh giá và xin phép đức cha tổ chức vác thánh giá sang. Chính Cha Tịnh mặc áo dòng trắng vác thánh giá theo sau các chú hát Latinh, bổn đạo đọc kinh đi đàng thánh giá. Cha cho dựng thánh giá khắp nơi, giữa đàng, núi cảnh, nhà thờ thánh giá, bốn góc làng. Cha nói: "Tôi dựng thánh giá này để anh em luôn sống trong sự tưởng nhớ đến Chúa Giêsu, Chúa chúng ta." Ngài viếng đàng thánh giá hàng ngày, ra viếng nhà thờ thánh giá mỗi thứ Sáu. Ngày lễ trọng ngài dẫn các chú đi viếng các nơi đã dựng thánh giá. Khi ngài giảng giải về thánh giá Chúa Giêsu dùng để cứu chuộc nhân loại và những ơn ích bởi sự suy ngắm thánh giá thì người nghe cảm động chảy nước mắt.
3. Lòng kính mến Ðức Mẹ
Cha Tịnh sùng kính Ðức Mẹ rất đặc biệt, mỗi ngày lần hạt và trước các ngày lễ Ðức Mẹ ngài ăn chay. Cha thường bắt các chú hát bài Ðức Mẹ là ngôi sao sáng soi lối cho kẻ vượt biển thế gian. Ðến câu xin Ðức Bà tỏ ra Ðức Bà là Mẹ tôi thì bắt hát tới bốn lần.
Có một lần Cha Tịnh nói với thầy giảng: "Tôi có lòng kính mến Ðức Mẹ hết sức, nhưng còn thiếu một điều mà Ðức Mẹ bảo tôi đêm vừa rồi là tôi không mang ảnh áo Ðức Bà, vì thế tôi phải mang ngay." Nói xong Cha Tịnh cắt vải nhung một miếng nhỏ và bảo thợ may khâu lại và từ đó ngài mang luôn trong mình cho đến lúc chết. Khi khuyên các chú, cha nói: "Ðức Bà chẳng có thể chuộc tội cho ta được, song những ơn Chúa ban cho ta thì lại qua tay Ðức Mẹ. Cho nên chúng ta phải sốt sắng mà kêu xin với Ðức Mẹ gìn giữ che chở cho. Có hai điều ta phải lo trước hết: một là kính mến Ðức Chúa Trời, hai là kính mến Ðức Bà. Nguyên sự kính mến Ðức Bà thì đã đủ cho được rỗi linh hồn, vì chưng ai kính mến Ðức Bà thật lòng thì Ðức Bà sẽ mở lòng cho người ấy kính mến Ðức Chúa Trời nữa".
4. Hãm mình phạt xác
Người nào có sự hãm mình là người có chí cao, có nhân đức phi thường, có lòng thanh sạch và là người thánh. Chẳng những Cha Tịnh hy sinh hãm mình mà còn chỉ bảo người khác cách thức hãm mình nữa. Một lần cha nói với Thầy Triêm tức cụ Sáu sau này: "Người Việt mình yếu sức không ăn chay được nhiều, vì nếu ăn chay thì không đủ sức làm việc. Khi trước tôi ăn chay nhiều nhưng bây giờ phải bớt lại." Khi đi làm lễ cho nhà dòng ở Kẻ Nguồi cha cấm họ không được dọn cơm có thức ăn nhiều, chỉ nước mắm và sung mà thôi. Ngài bảo các bà: "Trong những năm tôi phải giam thì chỉ được ăn cơm với muối mà nhiều khi muối đắt không có mà ăn nữa". Cha Tịnh nhất mực chỉ uống nước bốn lần theo giờ đã định, lúc khác dù có khát cũng nhịn. Ai biếu bánh trái không bao giờ giữ ở trong phòng nhưng đem đi cho người khác, nhất là hay cho bệnh nhân. Xác thịt con người chẳng những là mê ăn uống mà lại còn mê chơi bời ngủ nghỉ nữa. Cha Tịnh quen thức khuya đọc sách, chỉ nằm giường ngủ mỗi đêm bốn năm giờ. Ban ngày không bao giờ ngủ, bắt mình phải làm việc luôn. Ði đâu cũng mang sách theo để đọc. Trí khôn không thông minh nhưng nhờ siêng năng đọc sách mà Cha Tịnh được khen là người thông thái nhất trong các cha Việt Nam từ trước cho đến bấy giờ.
5. Siêng năng đọc kinh cầu nguyện cho các đẳng và cho người ngoại trở lại
Cha Tịnh thường khuyên các chú năng đọc kinh cầu nguyện và dâng các việc lành, hy sinh để giúp các linh hồn ở dưới luyện tội. Mỗi tuần cha dâng một lễ cầu cho các đẳng, trong thánh lễ bắt các chú hát bài Dies Irae tức là bài ca nói về ngày phán xét để giục lòng sốt sắng cầu cho các linh hồn còn phải giam phạt, nhất là cho ông bà cha mẹ mình.
Cha còn nói với các chú rằng: "Người ta phần nhiều được trở lại đạo không phải do lời giảng khuyên cho bằng do lời cầu nguyện. Cho nên khi chúng con đi giảng đạo được nhiều người nghe trở lại, có thể trước mặt người đời họ là con cái chúng con, nhưng trước mặt Thiên Chúa họ là con cái của bõ giữ cổng hay bà lão ăn mày, vì những kẻ ấy đọc kinh cầu nguyện cho kẻ ngoại trở lại, sốt sắng hơn chúng con. Anh em có siêng năng cầu nguyện cho kẻ ngoại trở lại thì khi họ nghe lời anh em giảng mà trở lại, đó mới đúng thực là con cái của anh em".
6. Nhịn nhục người khác và vui lòng chịu lụy bề trên
Cha khuyên các người ở trong nhà Chúa: "Khi anh em xem lễ thì phải nhớ sự tế lễ, nhớ lại những sự thương khó Ðức Chúa Giêsu đã chịu, nhất là trên cây thánh giá để giục lòng ăn năn tội và lòng kính mến trong giờ xem lễ. Lễ Misa là chính việc thờ phượng tạ ơn Ðức Chúa Trời Ba Ngôi, nên lúc xem lễ thì phải chú tâm vào việc thờ phượng. Về sau trong chúng con có ai được làm linh mục thì phải ra sức làm lễ cho nghiêm trang sốt sắng. Muốn được như vậy phải nhịn người giúp lễ khi có điều gì quên sót... Về việc giữ luật nhà, phải giữ cả những điều nhỏ nữa vì khi trông vào một bức tranh, chúng con thấy ảnh vẽ nét càng nhỏ thì chúng con càng khen vẽ khéo vẽ đẹp. Ðối xử với người khác muốn cho được mềm mại khôn ngoan thì phải nhịn và tôn trọng sự thật thà. Ban đầu thường nghe lời nói ngang tai khó nghe, nhưng có nhịn thì mới lấy lòng họ được và được lòng họ rồi thì họ mới nghe lời ta. Tỏ ra lý sự hơn người chỉ làm cho người bực tức hay chê cười mà thôi. Cũng đừng đặt tên gọi xấu cho nhau như anh khán sẹo, chú tư rỗ, kẻo không nhịn được mà sinh ra cãi cọ đánh nhau. Nếu muốn gọi nhau mà chơi thì tìm những danh xưng đẹp đẽ như ông cai, ông hương, ông lý... ai cũng thích".
Cha Tịnh rất thương học trò, muốn học trò giữ luật để khỏi bị phạt nên khi phải đi khám xét thì đi giầy rất kêu để các chú nghe thấy mà thôi không lỗi luật nữa, nhưng chú nào cố chấp thì ngài phạt rất nặng.
Cha Tịnh làm gương trong việc phục tùng bề trên. Thầy giảng giúp việc đức cha nói: "Tôi làm kẻ giảng giúp Ðức Cha Liêu (Retord) hơn mười năm ở Kẻ Vĩnh đang khi Cha Tịnh làm bề trên trường Latinh thì thấy đức cha phạt Cha Tịnh luôn". Thường đức cha phạt ngài phải lần hạt hay cho tiền trại phong cùi, Cha Tịnh cúi đầu thi hành ngay, và tối đến ngài còn sang tạ ơn đức cha. Khi sửa phòng, Cha Tịnh chạm trổ một chút cho đẹp liền bị Ðức Cha quở: "Cha xem nhà của đức cha đơn sơ mà nhà cha thì chạm trổ trong thời cấm đạo ngặt nghèo được sao?"
Lần khác Cha Tịnh dẫn học trò lên đức cha xin thưởng thêm, đức cha trách mắng: "Cha nhẹ tính nhẹ dạ chỉ muốn lấy lòng học trò. Chớ thì chỉ có mình cha là người biết thương học trò, còn đức cha không thương các chú bằng cha sao?"
Lần khác cha quản lý lên kêu với đức cha là cha bề trên Tịnh thương học trò mà không nghĩ đến việc chung. Ðức cha gọi ngài lên phạt phải lần hạt. Cha Tịnh thưa lại: "Lạy đức cha, đức cha giao cho con coi sóc học trò phần hồn phần xác, nếu không thương thì coi sóc học trò làm sao được?"
Ðức Cha dậy: "Cha không những là mẹ mà còn phải là cha của các chú nữa".
Cha Tịnh cúi đầu đáp: "Con xin hiểu, Ðức Cha phải." rồi ngài đi lần hạt luôn.
Đã đọc: 746 |