Tin Vui
MỞ RỘNG | THU GỌN

Suy niệm Tin Mừng
Thứ Bảy tuần lễ 15  TN    Chân dung người tôi trung (Mt 12,14-21)     
Thứ Sáu tuần lễ 15  TN    Chúa muốn tấm lòng (Mt 12,1-8)     
Thứ Năm tuần lễ 15  TN    Học ở trường Giêsu (Mt 11,28-30)     
Thứ Tư tuần lễ 15  TN    Điều đẹp ý Cha (Mt 11,25-27)     
Thứ Ba tuần lễ 15  TN    Đừng bỏ lỡ cơ hội (Mt 11,20-24)     
Thứ Hai tuần lễ 15  TN    Nguyên nhân gây chia rẽ (Mt 10,34-11,1)     
CN 15 TN  Năm A    Thiên Chúa hào phóng (Mt 13,1-23)     
CN 15 TN  Năm A    Gieo hạt giống cho mình      (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
Thứ Bảy tuần lễ 14  TN    Có Chúa, tôi còn sợ chi! (Mt 10,24-33)     
Thứ Sáu tuần lễ 14  TN    Đừng hổ thẹn vì Danh Chúa (Mt 10,16-23)     
Thứ Năm tuần lễ 14  TN    Môn đệ - Sứ giả bình an (Mt 10,6-15)     
Thứ Tư tuần lễ 14  TN    Nước Trời đã đến gần (Mt 10,1-7)     
Thứ Ba tuần lễ 14  TN    Chạnh lòng thương xót (Mt 9,32-38)     
Thứ Hai tuần lễ 14  TN    Không ai bị bỏ quên (Mt 9,18-26)     

Tìm kiếm nhanh
Theo tên bài hát
A B C D Đ E F G
H I J K L M N O
P Q R S T U Ư V
W X Y Z 0   9
Theo ca sĩ
A B C D Đ E F G
H I J K L M N O
P Q R S T U Ư V
W X Y Z 0   9

Tìm kiếm audio
Tìm
Theo
Tìm chính xác
Gần chính xác

Công cụ nghe nhạc

Để nghe nhạc, computer của bạn cần có:


Thống Kê
Nhạc phẩm: 5756
Số Ca Sĩ: 214
Thành viên: 360
Thành viên mới:
anhmayly
Đang online: 537
Khách: 537
Thành viên: 0
14/11  Thánh Étienn-Théodore Cuénot Thể


Étienn-Théodore CUÉNOT Thể, sinh năm 1802 tại Bélieu, Besancon, Pháp, Giám Mục, Hội Thừa Sai Paris, chết rũ tù ngày 14-11-1861 tại Bình Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, phong Chân Phúc ngày 11-4-1909 do Ðức Piô X, kính ngày 14-11.

Cũng như Ðức Giám Mục Hermosilla Liêm, Ðức Cha Cuénot Thể đã là cột trụ nâng đỡ hội thánh Việt Nam trải qua cuộc bắt đạo tàn khốc của Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Ðức. Ngài bỏ quê hương và truyền giáo ở Việt Nam 36 năm, 27 năm làm giám mục, phong chức linh mục cho hai giám mục và 56 linh mục. Dưới đời của ngài toàn địa phận Ðàng Trong được lần lượt phân chia thành địa phận Sàigòn năm 1844 và Huế năm 1850. Ðịa phận mẹ Ðàng Trong trở thành địa phận Qui Nhơn.

Vị thánh giám mục của toàn cõi Trung và Nam Việt sinh trong mùa đông ngày 8-2 năm 1802 tại Bélieu với tên gọi là Stêphane Théodore, trong một gia đình khá giả. Thế nhưng chiến tranh đã tiêu hủy hết gia tài đến nỗi cậu Stêphan không có tiền đi học phải cậy nhờ bà con đóng góp. Cậu là cả của gia đình 11 người con. Lòng đạo đức của cha mẹ đã chấp nhận mọi hy sinh khổ cực để cho cậu Stêphan được vào chủng viện học làm linh mục. Ngày cậu đi chủng viện, không có áo quần tử tế khiến bà mẹ phải mang chiếc áo cưới của mình ra để sửa lại thành áo cho cậu. Stêphan nói với mẹ: Khi nào con trở thành linh mục con sẽ sắm cho mẹ một cái áo đẹp như vậy.

Các bạn học chỉ biết nói về thầy Stêphan như là một người trầm tư, chín chắn, giữ luật rất tỉ mỉ, nhẫn nại và can đảm trong những lúc khó khăn, tuy nhiên thỉnh thoảng bệnh tật làm cho thầy thua kém các bạn đồng liêu. Thầy thông minh, cởi mở, nhiều sáng tạo và cương quyết, có lúc người ta cho rằng thầy cứng đầu. Ðặc biệt hơn hết là lòng nhiệt thành truyền giáo của thầy như thầy thường nói: "Ðức tin của tôi gắn chặt vào Thiên Chúa, tôi đã làm lời hứa khi còn học ở chủng viện Besancon".

Tuy nhiên thầy Stêphan gặp nhiều khó khăn trước khi chịu các chức thánh. Trong thời buổi chiến tranh, các chủng sinh được gửi trong các gia đình đạo đức. Mùa hè thầy Stêphan Cuénot nghe lời một người bạn sáng chế đồng hồ mà thầy nghĩ là có thể được các nhà kỹ nghệ mua sáng kiến, nên thầy mạo hiểm đi sang Thụy sĩ để quảng cáo. Câu chuyện bị lộ tẩy khiến bề trên nghi ngờ ý chí làm linh mục của thầy nên không cho thầy chịu chức năm. Các bề trên nói: "Tính kiêu ngạo và ma quỉ là những cái lôi kéo thầy hơn cả Thiên Chúa, tóm lại Thiên Chúa cũng chỉ là một cái gì đó thôi".

Thầy tìm đến chủng viện truyền giáo Paris, nhưng cha bề trên khuyên thầy nhẫn nại và chủng viện chỉ nhận những người đã có chức thánh. Thầy tìm sang nhà tĩnh tâm ở Aix-en-Provence năm 1823. Sau 14 tháng thử luyện, bề trên thấy thầy xứng đáng và cho chịu chức Phụ Phó Tế ngày 26-2-1825. Từ đây con đường tông đồ của thầy được sáng tỏ, ngày lễ Thánh Giuse 19-3 thầy được phong chức Phó Tế và ngày 24-9 chịu chức Linh Mục.

Với chức vụ mới, mỗi ngày Cha Stêphan Cuénot dạy học bốn giờ và dậy giáo lý, giải tội. Nhưng nguyện ước của cha là: được chết vì đạo thánh Chúa tại viễn đông. Sau nhiều thư từ, chú của ngài cũng là linh mục nhận rõ tiếng gọi thần linh nên giới thiệu Cha Stêphan vào chủng viện truyền giáo Paris ngày 23-6-1827 và tháng Giêng năm sau rời Paris đi Viễn đông.

Tới Macao năm 1829, bề trên ở đây may cho cha bộ áo Việt Nam và khăn đống để lên đường băng rừng qua Bắc Việt rồi xuống nhiệm sở ở Ðàng Trong. Vì Vua Minh Mệnh bế môn tỏa cảng nên Cha Cuénot phải mất 83 ngày đường mới tới được nhiệm sở ngày 24-7-1829. Trước hết cha được chỉ định ở chủng viện Lái Thiêu để vừa học tiếng Việt vừa dậy các chú. Cha được gọi tên là Tri. Ðức Cha Taberd trong thư ngày 23-7-1830 đã viết về vị thừa sai mới như sau: "Cha Cuénot sẽ được chỉ định giúp các họ đạo gần chủng viện, tôi tin rằng cha sẽ làm thỏa mãn những tín hữu..." Trong một thư khác năm 1831 Ðức Cha viết: "Cha Cuénot rất nhiệt thành trong việc giảng đạo và đưa người lương trở lại đạo. Ngài rất thành công". Có lẽ vì nhiệt thành quá và đời sống khắc khổ đã làm cha sinh bệnh đến phải xức dầu.

Năm 1833 lệnh bắt đạo toàn diện đặt địa phận trong tình trạng nguy ngập. Bấy giờ địa phận có khoảng 80.000 giáo dân, một giám mục, 8 thừa sai và 17 linh mục Việt. Giáo dân thấy khó lòng cho các thừa sai ẩn trốn nên khuyên các ngài tạm rút lui chờ cơn bắt đạo nguôi sẽ trở lại. Trong khi ấy Thừa Sai Jaccard, Odorico đã bị bắt ở Huế, Thừa Sai Gagelin đang trốn ở Bình Ðịnh. Ðức Cha Taberd quyết định đem Cha Cuénot, Vialle và Regereau tạm trốn sang Thái Lan. Sau đó vì chiến tranh Thái-Việt và cuộc nổi loạn của Lê văn Khôi gây nghi ngờ cho các thừa sai, các ngài xuống thuyền sang Singapore. Tại đây Ðức Cha Taberd đặt Cha Cuénot, mới 33 tuổi, làm giám mục phó và truyền chức ngày 3-5-1835.

Ngay sau đó Ðức Cha Cuénot cùng với hai cha Việt Nam học ở Penang thuê thuyền trở lại Việt Nam và thành công vào được Gò Thị thuộc tỉnh Bình Ðịnh (Qui Nhơn). Từ đây đức cha đổi tên là Thể và thường xuyên ở họ đạo Gia Hựu, trong nhà dòng Mến Thánh Giá, mọi sự do ông Năm Thuông sắp xếp. Khi tình thế cho phép, ngài đi thăm giáo dân ở Quảng Ngãi. Công việc ngài quan tâm đầu tiên là lập hai chủng viện và tăng số linh mục bản xứ, vì trong lúc bắt đạo chỉ có các linh mục Việt đi lại và trốn tránh dễ dàng. Trong thơ gửi về bộ truyền giáo năm 1836, ngài tường trình về cuộc tử đạo của các Thừa Sai Gagelin, Marchand, các linh mục Việt và thầy giảng, đồng thời xin phép phong chức linh mục cho các thầy giảng chỉ biết đọc Latinh, được làm phép bàn thờ không cần đá thánh, được làm lễ từ ba giờ sáng và tùy hoàn cảnh được làm lễ đọc thầm và sau cùng xin chuẩn cho giáo dân khỏi ăn chay vì đang phải trốn tránh và ngày đầu năm, trùng vào thứ Tư Lễ Tro không giữ được.

Sau khi Minh Mệnh chết ngày 20-1-1841, Ðức Cha Thể lợi dụng thời kỳ tạm yên để họp công đồng tại Gò Thị vào tháng 5, để ấn định các qui luật truyền giáo và chấn chỉnh một số công việc trong địa phận. Cuối kỳ họp, Ðức Cha Thể phong chức giám mục cho Ðức Cha phó Lefebvre. Ðể củng cố các linh mục, đức cha đặt ra một số câu hỏi về thần học và mục vụ và các cha phải trả bài vào dịp cấm phòng hằng năm. Ðối với giáo dân, đức cha chú tâm nâng cao lòng đạo đức, nhất là số những người yếu đuối đã xuất giáo và lâu ngày không được gặp giám mục. Với người xuất giáo, đức cha ra hạn cho họ đền bù bằng việc đưa một số người bên lương trở lại đạo hoặc rửa tội cho những trẻ em hấp hối. Ðức cha công bố kết quả của các xứ để thúc đẩy những nơi chưa nhiệt thành trong việc đem người lương vào đạo. Phương pháp truyền đạo của Ðức Cha là chia những người học đạo thành nhóm mười, mười lăm hoặc ba chục người trong một nhà để dậy giáo lý. Ðàn bà dậy cho đàn bà, đàn ông cho đàn ông. Mỗi tuần thầy giảng đến hai ba lần để cắt nghĩa giáo lý và cách thức biện bác những sai lầm dị đoan. Các người học đạo ăn chung với nhau và khi ăn nghe đọc sách. Trong ngày rửa tội, địa phận tặng cho một bộ áo trắng làm kỉ niệm. Về các thầy giảng, đức cha chia thành ba hạng: hạng thứ nhất có khoảng hai mươi mốt thầy là những thầy có khả năng và có kinh nghiệm dậy giáo lý. Hạng thứ hai khoảng ba mươi lăm thầy theo các cha đi làm phúc, giúp giáo dân lãnh nhận các bí tích, mỗi cha có bốn thầy. Hạng thứ ba là các ông trùm trưởng gia đình lo trật tự và sửa soạn các việc cần cho lễ rửa tội, hôn phối và săn sóc người ốm.

Nhưng ước vọng trên hết của vị chủ chăn can đảm và tận tụy là phúc tử đạo, chết vì đạo thánh Chúa. Trong một bức thư gửi về châu Âu, Ðức Cha đã bày tỏ ước nguyện được chết vì lưỡi gươm của đao phủ hơn là chết vì bệnh. Ngài viết: "Lưỡi gươm của Minh Mệnh đã làm cho bao nhiêu anh hùng được phúc tử đạo... nơi tôi ở có lẽ là chỗ dễ bị bại lộ nhất. Tôi chưa được vinh dự đó thôi. Nếu ngày nào quan quân điệu tôi đến cửa nha, trái tim tôi sẽ đập rất mạnh, nhưng không phải vì sợ hãi, mà là vì vui mừng. Khi nhìn những người bạn lần lượt ngã xuống, còn lại một mình sẽ buồn nghĩ rằng mình là người bất xứng. Không phải là đáng buồn lắm sao cho một vị thừa sai, hơn nữa cho một giám mục khi các giáo dân can đảm chịu gông cùm của cơn bắt đạo trong khi mình cứ phải trốn tránh".

Từ năm 1833 cuộc bắt đạo trở nên gay gắt vì tổng đốc Bình Ðịnh là một ông quan ghét đạo, đã đề nghị triều đình phân sáp giáo dân và tịch thu ruộng đất. Các cuộc lùng soát giáo dân đã gây ra rất nhiều khốn khổ cho họ. Năm 1861, giáo hội Việt Nam trên đường tử nạn, đức cha không muốn giáo hội bị tận diệt nên đã ra lệnh cho cha chính Herrengt và một số thừa sai tạm vào trong Sàigòn, tương đối đỡ bắt bớ để có người trở lại xây dựng địa phận sau này. Riêng mình Ðức Cha lại nghĩ rằng chủ chăn phải ở gần con chiên trong lúc khốn khó và hy sinh mạng sống vì con chiên.

Trong số các nhân chứng về cuộc xưng đạo và tử đạo của đức cha, có thầy sáu Francis Khoa và cai ngục Phương, người ngoại đạo. Họ đúc kết đầy đủ các lời khai của người khác làm thành bài tường thuật khá đầy đủ rõ ràng.

Theo Thầy Khoa, ngày 21-10-1861 Ðức Cha Cuénot rời Gò Thị để xuống Gò Bối trốn ở nhà bà Lưu cùng với thầy bốn Tuyên và chú Nghiên. Tại đây có Cha Tho và Thầy sáu Khoa đang trốn. Sáng Chúa Nhật 28-10 vừa tảng sáng Thầy Khoa đến báo tin có hai chú bị bắt và mang áo lễ đen để đức cha làm lễ cầu cho các tín hữu qua đời. Không may vì có người đã đi tố cáo trong làng có đạo trưởng trốn tránh nên quan sai cai đội Nam mang 50 lính đến vây làng. Thoáng trông thấy lính, cũng là lúc đức cha vừa làm lễ xong, bà Lưu báo tin để đức cha và Thầy Tuyên trốn vào vách kép, còn bà ra chận lính lại để hỏi xem họ muốn gì. Lính lục soát bắt được đồ lễ và ông trùm Qua trốn trên mái nhà. Lính tưởng là đạo trưởng, nhưng bà Lựu đã cải chính ngay không phải là đạo trưởng vì ông có vợ con. Lính bắt hai người đi, trong lúc đó lính cũng lục soát các nhà bên cạnh có Thầy Khoa và Cha Tho trốn, nhưng các ngài đã kịp trốn thoát. Tới chiều thứ Hai, đức cha, Thầy Tuyên và chú Nghiên vẫn còn ở trong vách, vừa đói bụng vừa khát nước và nghẹt thở. Khoảng 9 giờ tối lính mang ba cái gông đến khiến những người đang trốn tưởng là họ đã biết nên tự ra nộp mình. Thầy Tuyên vừa bước ra khỏi thì đã ngã vào người lính và bị trói lại. Chú Nghiên cũng vậy. Ðến lượt đức cha vừa bước ra đỡ bị lính túm lấy tóc và đè xuống lấy giây thừng trói chân tay lại. Vì yếu, đức cha không nói lên lời, mãi sau mới thều thào: "Tôi có chạy trốn đâu mà các ông trói chặt quá vậy?" Sau đó quan cho cởi giây trói tay để đức cha có thể nguyện được. Ðức cha xin họ trao lại cuốn sách nguyện và ngài bắt đầu đọc kinh.

Từ nơi bị bắt về đến tỉnh thành phải qua nhiều làng, các quan muốn cho nhiều người biết để mà sợ nên đóng gông và trói các tù nhân lại với nhau, riêng đức cha thì họ nhốt vào trong cũi mà khiêng đi. Vì trời mới mưa lụt nên cũi của đức cha ngập nước. Tới tỉnh, sáu người bị giam vào ngục khác nhau. Ông cai ngục Phương lo liệu thức ăn cho đức cha.

Theo lời khai của ông này, Ðức Cha Cuénot Thể bị thẩm vấn hai lần. Quan tuần phủ hỏi: "Tại sao có lệnh cấm mà ông còn đến xứ này và đã bao lâu?"

Ðức Cha đáp: "Tôi đến để giảng đạo thật và đã được 36 năm. Tôi đã đi chung quanh tỉnh Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hoà và Bình Thuận".

Quan lại hỏi: "Chỗ ở nhất định ở đâu và tới nhà bà Lưu từ bao lâu?"

Ðức Cha đáp: "Tôi ở Xuân Hương và mới tới nhà bà Lưu được mười hôm". Sau đó quan hỏi tiền để mua thức ăn. Ðức cha lấy từ trong túi ở thắt lưng hai quan tiền đưa cho quan, và sau đó bị đem về nhà giam.

Hôm sau quan lại hỏi tiếp: "Ông có biết tại sao người ta đến gây chiến ở Việt Nam?"

Ðức cha thưa: "Tôi không biết gì về việc chiến tranh, tôi chỉ đến đây với mục đích duy nhất là giảng đạo. Ðã 36 năm tôi đi giảng chỗ này chỗ khác. Chỉ có thế. Quan muốn đánh đập tôi tùy ý, nhưng không ích gì hỏi thêm nữa, quan chỉ muốn hỏi để ghép tôi vào việc chiến tranh mà tôi không hề hay biết gì".

Từ đó đức cha không bị tra hỏi lần nào nữa, nhưng phải giam rất ngặt không ai được đến gần trừ người đem cơm. Trong tù cũng có một cha Việt Nam đang bị giam mà không thể đến gần để ban bí tích cho đức cha.

Sau bốn ngày, đức cha lên cơn sốt vì nước độc và bị ướt quần áo trên đường về tỉnh. Quan cho y sĩ đem thuốc đến, nhưng đức cha nhất định không uống. Theo dư luận thì quan đã ngầm ra lệnh bỏ thuốc độc vào để đức cha chết sớm, vì quan sợ nếu đức cha sống lâu sẽ bị giải về kinh, và vì đức cha ở trong xứ 36 năm quan sẽ phải tội với triều đình. Quan đánh đập Thầy Tuyên và chú Nghiên để ép Ðức Cha uống thuốc. Vì thương họ nên đức cha đã uống thuốc, nhưng thay vì khá hơn thì bệnh tình trở nên nguy kịch. Ðức cha trút hơi thở cuối cùng lúc 7 giờ chiều ngày 14-11-1861, hưởng thọ 59 tuổi.

Trong khi điều tra làm án, Ðức Cha Charbonnier, kế vị đức Cha Thể cho rằng ngài không bị bỏ thuốc độc. Nhưng theo lời khai của ông cai ngục Phương thì chiều hôm ấy ông còn dìu đức cha đi bách bộ một lúc. Hầu hết các nhân chứng đều nói rằng dân chúng tin là quan đã bỏ thuốc độc.

Sáng ngày hôm sau bản án của triều đình về tới tỉnh truyền phải xử bá đao. Quan tuần phủ ra lệnh chặt đầu rồi bêu đầu như án đã ra, nhưng quan tổng đốc nói là người đã chết rồi thì không cần chặt đầu làm gì. Chính quan tuần phủ cũng nói rằng thật trời thương tù nhân này mà gọi về thế giới bên kia trước khi phải chịu cực hình. Quan làm tờ trình báo lại triều đình là tù nhân đã chết trước khi bản án đến. Trong khi đó ông cai đội tháo lấy chiếc nhẫn ở tay đức cha và sau đó đưa cho Thầy Tuyên mấy quan tiền. Thầy Tuyên xin quan lớn cho phép mua quan tài để chôn cất, nhưng quan ra lệnh lấy bốn cây tre bó xác mà chôn.

Ðến tháng 2-1862 án của triều đình gởi về tuyên án xử tử những người cùng bị bắt, còn xác đức cha thì phải vứt xuống sông. Bản án của vua như sau: "Ðạo trưởng Châu Âu tên gọi là Thể đã ẩn náu trong nước từ 40 năm, đã giảng dậy đạo sai lầm lừa dối dân chúng. Bị bắt và tra hỏi đã thú nhận tội vì vậy phải chặt đầu bêu ở chợ. Nhưng vì đã chết trong tù thì xác phải vất xuống sông". Những người lính đào mộ lên làm chứng rằng: "Chúng tôi không hiểu tại sao người Âu Châu này quá lạ lùng. Khi đào lên chúng tôi thấy tóc và râu còn nguyên, áo quần nguyên vẹn tựa như người nằm ngủ. Chúng tôi khiêng bỏ vào thúng để đem buông sông thì chân tay và thân người mềm mại như một người ngồi vậy". Ông cai Phượng còn cho biết rằng xác không có mùi thối mà còn tỏa hương thơm. Có một chút mùi thối là do cây tre đã mục bốc ra mà thôi.

Sau bẩy tám ngày xác nổi trên sông, mặt mũi của ngài vẫn đầy đặn, được những người đánh cá bên lương vớt lên và chôn ở cửa bể vì họ tin rằng người chết sẽ đem lại cho họ nhiều may mắn. Lúc ấy vì giữa thời kỳ phân sáp nên giáo dân không hay biết gì.

Đã đọc: 922


Đăng nhập

Nhớ cookie?

Quên mật khẩu
Đăng ký mới

Hình thành viên


suong

Bài Mới Đăng
CN 15 TN A: Lời Chúa nơi tôi
CN 15 TN A: Mảnh đất tốt
CN 14 TN A: Vất vả, hãy đến với Chúa
CN 14 TN A: Mình biết mình là ai trước ...
CN 14 TN A: Cái giá khi sống hiền
CN 13 TN A: Đức Giêsu, Thiên Chúa làm ...
CN 13 TN A: Chọn Chúa để chọn nhau
CN 13 TN A: Chúa trên hết
CN 12 TN A: Tình Cha
CN 12 TN A: Nỗi sợ

Nghe nhiều tháng 07
CN 4 MC A: Để Lời được lớn lên
CN 20 TN B: Chúa thiện hảo
CN 4 PS A: Gập ghềnh trên đường đức ...
CN 4 PS A: Ơn gọi gieo mầm từ gia đình
CN 3 MC A: Nước
CN 2 MV A: Hãy sám hối
CN 13 TN A: Chọn Chúa để chọn nhau
CN 14 TN A: Vất vả, hãy đến với Chúa
Thánh Đa Minh Trạch
3. Vẫn còn sống sót

Đọc nhiều tháng 07
Vinh quang Đức Mẹ Maria
Chú thỏ tinh khôn
Sự tích dưa hấu
Ích lợi của hôn nhân
Ông tướng gầy
Sự tích cái chổi
Thiên thần nhỏ
Xe ba thì
Đừng qua trung gian
Ly dị, trò chơi


Album mới

 CN 15 TN A 4

 CN 14 TN năm A 4

 CN 13 TN năm A 3


  Dòng Đa Minh Việt Nam
  Vietcatholic
  Kinh Thánh Các Giờ ...
  Gx. Đa Minh
  Dòng Đồng Công
  Tuổi mực tím

Trang chủ -|- Thành viên -|- Hướng Dẫn Sử Dụng -|- Tìm Kiếm