 Phanxicô Ðỗ Văn CHIỂU, sinh năm 1797 tại Trung Lễ, Liên Thủy, Nam Ðịnh, Thầy Giảng, xử trảm ngày 25-6-1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 25-6.
Thánh Phaxicô Chiểu sinh vào cuối thế kỷ thứ 18 tại làng Trung Lễ, tỉnh Nam Ðịnh. Ao ước được tận hiến đời mình cho công việc tông đồ phụng sự Chúa, ngài từ giã gia đình vào Nhà Chúa ngay từ hồi còn trẻ tuổi, và ở đó ngài được học hỏi luyện tập nhân đức dưới sự hướng dẫn của Ðức Cha Dominic Hernares (Ðức Cha Minh). Sau khi học nhà tràng La Tinh và Lý Ðoán xong, ngài được làm thầy giảng về giúp Ðức Cha Henares, Giám Mục Phó địa phận.
Hai sự việc sau đây chứng tỏ ngài có lòng nhiệt thành yêu mến Thiên Chúa và hăng say giúp đỡ người khác. Có một lần, ngay trước khi bị bắt, ngài gặp một người lính có đạo đến làng Kiên Lao tìm thầy cả xưng tội rước lễ để được trung thành giữ đạo Chúa trong những cơn thử thách bắt đạo. Ngài liền cầu nguyện chung với ông lính khá lâu, rồi sốt sắng khuyên bảo ông ráng chịu đựng những cực hình, thà mất mọi sự chứ chẳng thà mất ơn nghĩa cùng Chúa. Lần khác khi vừa mới nghe tin một người em bị bắt vì đạo và đã anh dũng tuyên xưng đức tin, ngài mừng rỡ vội vàng đi tìm Cha Hiền xin ngài dâng hai Thánh Lễ cầu cho em được sức mạnh kiên trì xưng đạo thánh Ðức Chúa Trời.
Vì ngài thường theo Ðức Cha Henares đi kinh lý các xứ trong địa phận đã quen, nên khi Ðức Cha phải đi ẩn trốn ngài cũng đi theo Ðức Cha chứ không bao giờ có ý định bỏ Ðức Cha chịu khổ một mình. Cũng vì thế mà ngài đã bị bắt chung với Ðức Cha tại nhà ông Nghiêm, làng Hạ Quang. Khi bị tù ngài có nói một câu khiến chúng ta nhớ đến hoàn cảnh tương tự của Thánh Lorensô, tử vì đạo, người Tây Ban Nha: "Trong thâm tâm tôi, tôi đã quyết định theo Ðức Cha Henares cho đến chết, cho nên Ðức Cha chịu khổ bao nhiêu tôi cũng sẵn lòng chịu bấy nhiêu. Chớ gì tôi được phúc tử vì đạo cùng Ðức cha."
Quả thật Thiên Chúa đã nhận lời ngài cầu xin nên ngài được diễm phúc chết cùng một ngày và cùng một cách như Ðức Cha Henares.
Khi các quan đã bắt được Ðức Cha Henares và Thầy Phanxicô Chiểu, chúng đóng gông, và tịch thu tất cả mọi thứ của hai vị chỉ chừa lại bộ quần áo rách nát đang mặc, rồi đem hai người về phủ Xuân Tràng và sau đó về tỉnh Nam Ðịnh. Ở cửa thành có một cây thập giá lớn do các quan đặt, để mọi người ra vào cửa thành bắt buộc phải dẫm lên: nếu ai không dẫm lên, quân lính biết ngay là Kitô hữu liền bắt giam người đó. Bởi vậy khi đến cửa thành, Thầy Chiểu liền cố gắng hết mình cúi xuống để lấy cây thánh giá lên ôm vào lòng. Khó khăn lắm ngài mới cầm lên được vì cổ và tay ngài đều đeo gông nặng. Ngài đợi cho đến khi Ðức Cha đi qua cổng rồi mới hôn kính cây thánh giá. Ngài còn muốn lấy luôn cây Thánh Giá mang theo nếu quân lính không đánh đập và giật lại. Vào cửa thành rồi chúng điệu Ðức Cha ra tra hỏi còn Thầy Chiểu chúng bắt giam trong tù.
Thầy Phanxicô Chiểu bị điệu ra trước công án rất nhiều lần, nhưng lần nào ngài cũng anh dũng tuyên xưng đức tin, trả lời các quan những lời lẽ rất khôn ngoan không làm hại đến các nhà truyền giáo, các linh mục hoặc các Kitô hữu khác. Các quan bảo ngài nếu chịu khóa quá thì họ sẽ tha cho, còn nếu không nghe thì phải chết. Nhưng vị anh hùng tử đạo đã mạnh dạn trả lời và được ghi lại trong tài liệu của Ðức Cha Marti: "Ðức Chúa Trời là Thiên Chúa thật, là cội rễ mọi sự, người ta phải thờ phượng cùng kính mến Ngài trên hết mọi sự, cho nên tôi không dám bước qua. Dù phải chết tôi cũng nhất định không bằng lòng." Các quan nghĩ rằng có lẽ ngài chỉ bạo miệng thôi chứ nếu đánh đập dữ tợn thì chắc ngài sẽ chết nhát mà bỏ đạo, nên các quan liền truyền đóng nọc chân tay ngài vào ba chiếc cọc dưới đất. Những cái roi liên tiếp giáng xuống thật dữ tợn trên thân xác ngài. Tới đòn thứ 30 mà vẫn không thấy dấu hiệu khuất phục của ngài, các quan bèn ra lệnh ngưng đánh đập và đem ngài trở lại nhà tù, nhưng không quên quàng thêm vào chiếc gông cổ ngài một dây xích thật nặng quấn chéo trước ngực để cột vào chân ngài. Thật không thể nào tưởng tượng được vị anh hùng tử đạo này đã phải chịu khổ những gì trong tù. Ðức Cha Marti kể lại trong bút ký của ngài như sau: "Mười lăm ngày sau, thầy Chiểu gầy đi một cách khủng khiếp, sắc mặt và sức lực không còn nữa."
Dầu đã yếu đuối, ngài cũng ráng viết một lá thư cho Thầy Quỳnh, kẻ giảng, đề ngày 21 tháng 6. ngài viết: "Từ ngày tôi ở đây tôi đã phải chịu đau khổ kinh khủng. Tôi không còn lấy một xu để mua hạt gạo. Thầy có thể đến các cha truyền giáo xin họ giúp đỡ tôi được không. Thầy xin lỗi giùm tôi tất cả những ai mà tôi rất có thể đã làm mất lòng họ cách này hay cách khác. Không bao lâu nữa tôi sẽ chết vì nhờ ơn Chúa tôi đã nhất quyết sẽ không bao giờ khóa quá."
Ngày 12-6, các quan viết án đệ trình lên vua xét xử: "Ðỗ Văn Chiểu đã theo học danh Trùm Hai (ám chỉ Ðức Cha Henares) những sự dối trá. Tên Chiểu đã không tuân lệnh chiếu chỉ vua truyền cấm đạo Giatô là tà đạo nên đã bị bắt giam. Dù đã tra tấn, tên Chiểu vẫn ngoan cố không chịu bỏ đạo ấy. Vậy tên này là kẻ nghịch không chịu lụy nhà nước nên phải trảm quyết...."
Chiếu chỉ của vua truyền trảm quyết ngài tới Nam Ðịnh ngày 25 tháng 6, cùng một ngày với án trảm quyết Ðức Cha Henares. Nhưng trước khi ca khúc Khải Hoàn Ca, ngài còn phải chiến đấu trận chiến ác liệt cuối cùng. Chiều hôm đó quan truyền mang ngài ra và cố gắng hết sức dụ dỗ cũng như đe dọa để bắt ngài phải khóa quá. Nhưng được gìn giữ bởi ơn trên, vị anh hùng đã vững vàng trả lời: "Nếu quan lớn có một người con trai rất yêu quí, mà khi quan lớn nằm nghỉ dưới đất, quan lớn có bằng lòng để cho đứa con ấy bước qua và đạp lên quan lớn chăng? Vì vậy tôi lại càng không dám bước qua hình ảnh Thiên Chúa của trời đất mà cả loài người phải tôn kính hình tượng Ngài. Dù quan lớn có cất sự sống phần xác tôi, tôi cũng không bao giờ dám làm chuyện đoù".
Nghe ngài trả lời mạnh bạo như vậy, các quan giận dữ vô cùng. Một vị quan liền nói: "Ðợi hoài cũng vô ích, chúng ta đưa nó đi xử ngay cho rồi."
Nhưng lúc bấy giờ trời đã tối lắm, nên các quan quyết định cho đánh đòn để hả cơn giận rồi ngày hôm sau mới trảm quyết ngài. Quân lính vâng lệnh các quan, đánh đập ngài thật dữ tợn đến nỗi da thịt nát hết và máu chảy ra ròng ròng. Như vậy mà bọn chúng vẫn chưa hả giận, còn căng ngài trên bàn chông mà lăn qua lăn lại nhiều lần. Cuối cùng khi đưa ngài về ngục chúng phải khiêng ngài đi vì ngài sống không ra sống, chết chưa chết hẳn, nhưng đức tin của ngài vững mạnh hơn bao giờ hết. Ai mà có thể tin là sức ngài có thể chịu đựng được những sự khốn khó như vậy nếu không phải là do ơn Chúa?
Ngày hôm sau quan truyền dẫn Ðức Cha Henares và Thầy Chiểu ra pháp trường. Trên đường đi Thầy Chiểu thấy nhiều Kitô hữu đứng khóc lóc liền yên ủi và khuyên bảo họ: "Các ông các bà hãy trở về đi, đừng khóc lóc nữa làm chi vì ngày hôm nay thầy trò tôi sẽ được vào nước thiên đàng là quê thật vui vẻ vô cùng."
Một tên lính cầm bảng trước mặt và trên bảng viết những dòng chữ sau đây: "Ðỗ Văn Chiểu đã bị những người ngoại quốc lường gạt, lại không chịu tẩy sạch tim hắn khỏi những vết nhơ nhuốc gây ra bởi tà thuyết đạo Gia Tô, vì vậy vua đã truyền lệnh trảm quyết hắn."
Khi đến nơi xử, quân lính đem Ðức Cha Henares ra khỏi cũi, ngài liền xin các quan đợi một chút để ngài dọn mình chết và phó linh hồn trong tay Chúa. Sau đó ngài xin quan được thấy Thầy Chiểu tử vì đạo trước. Thầy Chiểu quì dưới chân Ðức Cha để lãnh bí tích giải tội lần cuối cùng. Ngài đang quì gối sốt sắng đọc kinh phó linh hồn trong tay Chúa thì tên lý hình được lệnh tiến hành. Khi lưỡi gươm thứ nhất chém xuống gáy ngài, người ta còn nghe thấy ngài cung kính kêu tên cực trọng Chúa Giêsu ba lần. Nhưng hình như lưỡi gươm sắc bén bị cái xích còn đeo trên cổ ngài chận lại, sức chém yếu đi, nên tên lý hình phải chém thêm ba lần nữa đầu của ngài mới rơi xuống đất. Trong khi đó người ta vẫn nghe thấy miệng ngài thầm thĩ cầu nguyện: "Lạy Chúa, con phó linh hồn con trong tay Chúa." Một tên lính liền tung đầu ngài lên trời ba lần theo thông lệ, để quan và mọi người đều nhìn thấy. Trong khi đó các Kitô hữu đã ào đến hôn kính xác vị anh hùng tử đạo dù các quan đã ngăn cấm và dọa nạt. Họ tranh nhau thấm máu đào của ngài, có người còn cắt cả râu tóc hoặc quần áo của ngài. Sau đó các quan cho phép các giáo hữu mang quan tài đến để bỏ xác ngài vào chôn ngay tại chỗ. Sau này họ đưa về táng ở làng Trung Lê, quê quán của ngài. Ðức Thánh Cha Leo XIII đã phong Á Thánh cho ngài và từ đó giáo dân các nơi tuốn đến viếng xác thánh ngài. Người ta nói đã có rất nhiều phép lạ xẩy ra nhờ lời bầu cử của ngài.
Đã đọc: 604 |