 Tôma TOÁN, sinh năm 1767 tại Cần Phan, Nam Ðịnh, Thầy Giảng, Dòng Ba Ða Minh, chết rũ tù ngày 27-6-1840 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 27-6.
Thày Toán quê quán làng Cần Phán, tỉnh Thái Bình, sinh năm 1767. Ngài đã dâng mình cho Chúa ngay từ hồi còn bé. Vì ngài rất hăng say nhiệt thành làm việc tông đồ nên ngài được bề trên tin tưởng cho khấn Dòng Ba Ða Minh, và chọn ngài về coi sóc việc dòng tại nhà chung Trung Linh. Ngài đã làm việc ở đây rất lâu năm, cho đến khi cấm đạo gắt gao quá ngài đã ẩn trong làng với Cha Cố Tuyên. Lúc bấy giờ có một người trong làng tên là Lang Tứ đi tố cáo với quan phủ Xuân Tràng là có hai cụ ẩn trong làng. Ngày 16-12-1839, quan phủ dẫn lính đến vây làng Trung Linh. Quan bắt tất cả các thanh niên cho đến ông lão đến điểm mặt tại đình làng rồi đi lục soát tất cả mọi nhà. Cha Cố Tuyên rủ thầy già Toán đi ẩn trốn với ngài. Nhưng thầy già thưa với ngài: "Cha là linh mục nên cần phải đi ẩn trốn để giữ sinh mạng mà ban các bí tích cho giáo dân, những việc này con đâu có làm được".
Thầy già nghĩ chắc chẳng có ai tố cáo mình nên nhập bọn với những người trong làng và lấy tên là Thi để ra đình điểm mục. Nhưng ác thay, tên chỉ điểm đã tả rõ hình dáng ngài với quan là có một cụ sói đầu nên thoạt thấy ngài, quan bắt tháo chiếc khăn quấn đầu ra để kiểm chứng. Ngài thưa với quan ngài không phải là đạo trưởng, nhưng quan không nghe, truyền đóng gông và giải ngài về phủ với hai vị quan viên của làng Trung Linh.
Về đến phủ, quan liền dụ dỗ hứa tha ngài về nếu ngài chịu quá khóa, nhưng ngài thưa: "Bẩm quan lớn, dù quan lớn có đánh đòn và giết tôi, tôi cũng chẳng dám làm chuyện đó".
Quan lớn hết dùng những lời ngon ngọt dụ dỗ đến những lời đe dọa, xỉ vả và đánh đập, ngài cũng nhất quyết không bỏ đạo. Quan giận dữ bắt ngài giam vào nhà tù. Ngày hôm sau quan phủ điệu ngài về tỉnh Nam Ðịnh giao cho quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Ở đây ngài cũng bị quan tổng đốc hành hạ đánh đập đủ mọi cách nhưng ngài vẫn không chịu bỏ đạo. Quan liền bắt ngài hết ngày này sang ngày khác, lúc thì phải đứng chết lạnh ngoài trời, lúc thì đứng trần truồng giữa sân để người ta qua lại chê cười và xỉ vả ngài. Dù hành hạ cách nào đi nữa ngài cũng cứ cương quyết không chịu bỏ đạo.
Nhưng hỡi ôi! Chẳng được bao lâu, ngài đã phải ngã gục hai lần trước sức mạnh tàn ác của kẻ thù, và cũng hai lần ngài đã trỗi dậy, ăn năn và than khóc cho sự yếu đuối của mình.
Lần thứ nhất, chúng dùng một vị quan viên làng Trung Linh, cũng bị bắt với ngài nhưng đã bỏ đạo, để dụ dỗ ngài. Quan truyền cho ông phải dụ dỗ ngài bỏ đạo cho bằng được, nếu không ông cũng sẽ bị chung số phận với ngài. Vị quan viên này cùng với ba người khác thuê thêm lính đến than khóc, năn nỉ, van nài ngài bỏ đạo để họ khỏi bị chết. Những tiếng khóc kêu van thảm thiết của họ đã dằn vặt tâm trí ngài quá đến nỗi ngài chịu đựng không nổi, thêm chút nữa thì ngài đã đầu hàng chịu thua rồi. Cách mấy ngày sau, 19-01-1840, quan lại truyền cho họ đến tiếp tục dỗ dành và kêu trách ngài thảm thiết hơn. Ngài động lòng thương hại muốn cứu mạng sống của những người này nên cuối cùng ngài đã đau xót đầu hàng chịu bỏ đạo. Ai có thể tả nổi quang cảnh lúc bấy giờ? Các quan toà, đám cận vệ, quân lính và tất cả những người chung quanh, ai ai cũng reo hò chiến thắng trên sự đau khổ của ngài. Chỉ có một người gượng ép bỏ đạo mà họ dậm chân múa tay reo hò vui mừng bất tận cứ như là cả một tôn giáo đã bị tiêu diệt rồi vậy. Quan chúc mừng thầy già đau khổ và khuyến khích ngài giữ mãi quyết định này, nhưng truyền đem ngài về giam lại trong ngục mấy ngày nữa xem ngài có thực lòng hay không rồi mới tha về. Nhưng về đến ngục, ơn Chúa đánh động tâm hồn ngài, ngài đã ăn năn khóc lóc cho tội lỗi của mình: "Lạy Chúa tôi, tôi thật đã quá điên rồ nên mới nghe người ta mà phạm tội chối bỏ chính Thiên Chúa tôi. Tôi quyết ăn năn dốc lòng chừa không bao giờ phạm tội như vậy nữa".
Những tên phản nghịch cố gắng an ủi ngài và dụ ngài giữ quyết định bỏ đạo nhưng đều vô ích. Ơn Chúa đã khiến ngài ăn năn thật tình tự đáy lòng ngài. Khi Cha Cố Tuyên nghe tin ngài đã quá khóa, liền viết thư khuyên bảo ngài ăn năn trở lại. Cách mấy ngày sau, Cha Hiển cũng bị giam cùng chỗ với ngài, nhờ đó ngài được giải tội. Ơn thánh của bí tích giải tội đã mang lại sự bình an và yên tĩnh cho tâm hồn ngài. Ngày ngày ở trong ngục ngài ăn năn khóc lóc, hãm mình đền tội, cầu xin Chúa thêm sức mạnh để xưng đạo trước mặt các quan.
Sau biến cố trên, ngài bị giam cho tới ngày 18-4-1840, mới lại bị điệu ra trước mặt quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Ðức Cha Hermosilla thuật lại cuộc tra khảo này như sau: "Giữa tháng Tư, Thầy Toán lại bị điệu ra trước tòa án với hai người giáo dân đã bỏ đạo. Quan lớn nói với thầy: "Bất cứ người nào trước đã không tuân lệnh vua, nhưng nếu sau ăn năn mà chịu bỏ đạo thì vua cũng sẽ tha, mà ta thì càng thương và tha ngay."
Thầy già liền trả lời: - 'Thưa quan lớn, tôi không có ý bỏ đạo bao giờ nữa.'
Quan lớn giận dữ truyền đánh đập thầy, xỉ vả và dọa nạt thầy đủ thứ. Chúng còn tìm đủ mọi cách ác ôn hành hạ tra tấn thầy cho đến khi chịu bỏ đạo mới thôi. Nhưng thầy già đáng kính của chúng ta đã anh dũng chịu đựng tất cả mọi cực hình đó".
Khoảng hai ngày sau, quan lớn lại truyền mang ngài ra hành hạ ngài cách khác, nhưng tất cả đều vô ích, ngài vẫn nhất quyết không chịu quá khóa nữa. Thấy mọi cực hình và đánh đập chẳng ăn thua gì, viên quan độc ác lại giao ngài cho hai tên phản nghịch đã bỏ đạo và truyền cho chúng phải làm sao cho ngài bỏ đạo lại mới được, nếu không chúng cũng sẽ phải chết. Hai người giáo dân này lại hợp sức với quân lính và các quan cố làm cho ngài phải ngã lòng. Khó mà có thể diễn tả cho đầy đủ các cực hình khổ nhục mà thầy già đã phải chịu đựng trong bốn ngày liền. Kẻ thì xỉ vả chửi rủa ngài, kẻ thì nhổ nước miếng vào mặt ngài, kẻ thì đánh đập hành hạ ngài đủ mọi cách, có kẻ còn dám thốt ra những lời hèn hạ tục tĩu phạm thượng đến Chúa và Ðức Mẹ. Theo lời Ðức Giám Mục Hermosilla thì "chính những lời nói phạm thượng đáng sợ này đã làm cho thầy già đáng kính phải phải đau đớn khổ sở nhất. Cũng chỉ vì quá động lòng vừa thương hại người ta, vừa nghe những lời xấu xa khả ố xúc phạm đến Thiên Chúa, thầy đau đớn quá chịu không nổi đã đành lòng đầu hàng tuân theo lệnh của vị quan vô thần này".
Quan lớn thấy ngài đã bỏ đạo nên rất mừng rỡ truyền tháo gông và thay quần áo sạch sẽ cho ngài rồi đem ngài đến một nơi rộng rãi cho ngài nghỉ ngơi. Thiên Chúa, đầy quyền năng và nhân từ đã không cho phép ngài ở lâu trong tình trạng đáng thương này. Với lòng nhân từ, Thiên Chúa đã dẫn lối cho ngài biết nhìn nhận tội lỗi gớm ghiếc của mình, đồng thời đổ tràn ơn thiêng xuống trên tâm trí ngài làm cho ngài khóc lóc ăn năn tội hết lòng hết sức. Dù cho những kẻ phản nghịch có cố gắng an ủi cách nào đi nữa, ngài cũng chỉ khóc lóc đấm ngực ăn năn dốc lòng chừa tội gớm ghê của mình, và hăng hái tuyên xưng đức tin hơn bao giờ hết. Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu đã xếp đặt cho người đầy tớ ăn năn được dịp thống hối ăn năn qua bí tích Giải Tội mà ngài hằng mong ước, vì đúng 15 ngày sau, Thiên Chúa gửi đến ngài Cha Ðôminicô Trạch, bị bắt và bị giam cùng chỗ với ngài để ngài được xưng tội cùng cha thánh tử đạo tương lai.
Sau vài ngày được rửa sạch linh hồn trong máu Con Chiên Thiên Chúa, ngài phải chiến đấu ác liệt hơn những lần trước. Vị quan độc ác với niềm vui giả dối, nói diễu với quân lính: "Mang cụ già Toán ra đây cho hắn tập quá khóa kẻo hắn quên mất".
Quân lính liền điệu ngài ra lần nữa, quan lớn truyền cho ngài quá khóa, nhưng ngài thưa lại: "Thưa quan lớn, tôi chẳng dám bỏ đạo bao giờ nữa. Tôi sẵn lòng thà chết chứ chẳng thà tuân lệnh quan lớn".
Trịnh Quang Khanh cứ nghĩ là thầy già sẽ tuân lệnh một cách mau mắn chứ đâu có ngờ ngài lại anh dũng trả lời như vậy. Ông giận dữ ra lệnh cho quân lính đánh đập ngài và kéo ngài qua cây Thánh Giá, nhưng chẳng làm sao được vì ngài đâu có lẽ nào chịu bỏ đạo nữa. Quan lớn vừa xấu hổ vừa bối rối giận dữ sai quân lính bắt ngài nằm ngửa xuống đất đập nát chân tay ngài. Chúng tuân lệnh đánh đập dữ tợn khắp thân thể ngài không chừa một chỗ nào. Rồi quan truyền lệnh lôi ngài qua cây Thánh Giá trong tình trạng đáng thương như vậy. Phẫn nộ vì hành động ép bức này, thầy già chỉ biết ăn năn tội và la lớn lên: "Thật tôi không muốn bỏ Chúa tôi đâu".
Quan giận tím cả mặt mày chửi rủa ngài bằng những lời xỉ nhục độc ác nhất và truyền lính đóng gông rất lớn và nặng, đồng thời bắt chúng phải tìm đủ cách làm cho ngài quá khóa. Quân lính quyết phá tan thành trì đức tin được xây bằng đá rắn chắc này, nhưng tất cả những mũi tên của chúng dù có được bắn đi mạnh mẽ thế nào cũng không hề lay chuyển tâm hồn ngài được nữa, vì ngài đã được bảo vệ với sức mạnh trên trời. Quan lại truyền cấm không cho ngài ăn uống một chút nào, bắt trói ngài hầu như trần truồng nơi công cộng để người ta nhạo cười, xỉ vả và làm khốn nhục ngài. Suốt ba ngày liền, không ngày nào chúng để cho ngài yên thân. Kẻ thì nhổ nước miếng vào mặt, kẻ thì nhổ râu nhổ tóc ngài, có kẻ còn đi tiểu vào mặt ngài và nhiều sự vô phép với ngài. Ðã thế ngài còn phải chịu đựng mưa gió nắng rét ngoài trời cùng với biết bao nhiêu sự khốn khó khác, nhưng ngài bằng lòng chịu đựng những sự khổ nhục này, không kêu la một tiếng nào.
Sau đó quan truyền ngưng hành hạ ngài và bắt quân lính dọn một mâm cơm có nhiều đồ ăn ngon rồi bảo ngài: "Ăn đi còn lấy sức mà bước qua cây Thánh Giá".
Nhưng ngài trả lời: "Ăn để mà bỏ đạo thì tôi không thèm".
Quan nghe thấy vậy giận điên lên bắt giam ngài như trước và truyền lệnh cấm không cho ai được mang đồ ăn đến cho ngài. Như vậy quan đã có ý định muốn ngài phải chết đói mà không cho vua biết. Quan sợ vua không truyền giết ngài cho sớm nên ra lệnh: "Cấm không ai được đem thức ăn cho hắn, kẻo sống hắn lại tiếp tục giữ đạo Gia Tô".
Ðức Giám Mục Marti cũng kể lại y hệt những lời nói của quan và nói rằng chuyện này xảy ra ngày 28-4-1840.
Một lần nữa, ngài lại bị đem ra đứng nơi công cộng chịu đói thêm 5 ngày nữa rồi chúng lại mang ngài về tra khảo, ngài vẫn một mực từ chối không chịu quá khóa. Quân lính lấy một cái dùi nung đỏ và dùi vào gót chân thâu suốt hai bên, rồi giam ngài trong nhà cầu tiêu hôi hám dơ dáy để hành hạ ngài. Nhưng ngài cứ chịu đựng chẳng nói một điều gì, như đá rất vững, sóng gió chẳng làm chi được ngài, và lũ quỉ dữ cũng chẳng làm cho ngài sờn lòng chút nào. Vì trước đã chối bỏ đức tin nên bây giờ ngài muốn tuyên xứng Ðức Kitô trước mặt mọi người. Dù có bị tan xương nát thịt ngài cũng vững vàng chịu đựng để đền tội mình. Lũ quỉ dữ chỉ có thể hành hạ đánh đập thân xác ngài chứ không thể thắng được linh hồn của vị anh hùng này.
Ðến ngày 9-5, như chúng ta đã thấy trong chuyện Cha Hiển, thầy già đáng kính đã bị điệu ra chung với Cha Hiển, rồi chúng đặt trước mặt mỗi người một cây Thánh Giá và sau lưng mỗi người một con voi, để mong hai đấng thánh này sợ voi đạp chết mà chạy qua cây Thánh Giá chăng. Nhưng cũng chẳng ăn thua gì, vì cả hai đấng đều không sợ chết. Cũng ngày hôm đó, quan đã giận dữ đe dọa cấm không cho bất cứ ai đem đồ ăn cho ngài. Nhưng dù thế, nhiều giáo dân xưa nay đã giúp ngài vẫn tìm ra cách đút lót tiền cho lính canh để mang đồ ăn vào cho ngài. Nhất là một người ngoại đạo, tên là Tham, đang làm cai đội cũng thương giúp ngài cơm nước và những thứ cần thiết. Hai chục ngày sau ngài cũng vẫn chưa chết, quan ngạc nhiên nên bắt ngài ra tra cứu: "Một là Ðức Kitô của ngươi có phép gì giúp ngươi, hai là ngươi có thuốc 'kỳ nam' đeo trong mình nên không chết chăng?"
Ngài nhận là có một ít người tốt lành đã thương hại mang đến cho ngài ít cơm. Quan tức khắc ra lệnh đánh đòn cả ngài lẫn lính canh, và để phạt ngài ông cấm chỉ từ này về sau không được cho ngài ăn uống gì nữa. Trên thực tế, lệnh này không khác gì một án tử. Vị quan giận dữ như một con thú điên đã truyền giam ngài ngoài trời và bắt rào chung quanh để không một ai có thể đến gần đem thức ăn cho ngài. Ngài bị giam ở đó đêm ngày chẳng có gì che thân, chẳng có gì ăn uống, thật khổ sở. May nhờ có sự giúp đỡ của cai đội Tham mà hai người đàn bà đem cho ngài được một cái chõng, một cái chiếu và một chút cơm. Sự giúp đỡ quá khó khăn nên cũng chẳng được bao nhiêu so với sự yếu đuối hao mòn của thân xác ngài. Nhưng bấy giờ ngài chẳng mong ước gì hơn là được chết, và nhất là được chết dưới tay đao phủ để cất gương mù đã chối đạo hai lần. Với lòng mong ước đó ngài đã chịu đựng những sự khốn khó để làm việc đền tội, như lời ngài hằng than thở mỗi khi có người đến gần: "Khốn nạn cho tôi vì tôi đã cả lòng nghe người ta mà phạm tội chối Chúa tôi, tôi phụ ơn quá, tôi ăn năn chừa thật, và chịu mọi sự khó này để được đền vì tội tôi đã phạm".
Cuối cùng, ngày 27-6-1840, khoảng giữa trưa ngài đã trút hơi thở tại chỗ giam, thọ 73 tuổi. Khi ngài gần qua đời, chính cai đội Tham đã đến bên chăm sóc ngài, thay quần áo sạch sẽ cho ngài và thu góp quần áo cũ để giữ làm dấu tích thánh, rồi thưa với ngài, theo lời Giám Mục Marti kể lại: "Lạy ông, khi ông lên trời nhớ đến tôi cùng".
Một tài liệu khác viết rằng: "Ngày 2-7, biết giờ chết sắp đến, thầy đã xin lính canh ngục: 'Thưa ông, chúng ta ở đây chỗ vắng vẻ quá, xin ông ban cho tôi một đặc ân mà không ai biết được, là khiêng tôi ra giữa sân rộng rãi để tôi chết ở đó'. Người lính đã mang thầy ra giữa sân và độ hai tiếng sau thầy trút hơi thở, ngón tay còn đang để trong miệng vì khát nước".
Khi các quan biết tin ngài đã chết liền truyền chôn xác ngài cùng một chỗ hay chôn các tù nhân. Phêrô Dần và hai người giáo dân khác đã đút lót quân lính để lấy xác ngài cho vào quan tài và chôn cất tử tế. Sắp sửa chôn thì có hai người đàn bà từng chăm giúp ngài trong tù ước ao được xem mặt ngài lần cuối cùng. Nắp quan tài được mở ra, mọi người đều kinh ngạc khi thấy mặt ngài chiếu sáng một vẻ đẹp siêu thóat. Họ liền cắt lấy một ít tóc của ngài và chia cho nhau giữ làm kỉ niệm. Ngài được chôn cất ngay chỗ cũ, mãi đến tháng Giêng, năm 1841, tức 7 tháng sau, xác ngài mới được đem về táng ở nhà trường Lục Thủy Hạ. Sau này Ðức Giáo Hoàng Leo XIII đã phong chức Á Thánh cho ngài.
Đã đọc: 974 |