Tin Vui
MỞ RỘNG | THU GỌN

Suy niệm Tin Mừng
Thứ Năm tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Đọc và thực hành Lời Chúa (Ga 13,16-20)     
Thứ Tư tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Tin vào Đấng được sai đến (Ga 12,44-50)     
Thứ Ba tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Thuộc về đàn chiên của Chúa (Ga 10,22-30)     
Thứ Hai tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Đi theo vị mục tử nhân lành (Ga 10,11-18)     
CN 4 PS  Năm A    Can đảm bước qua cửa Giêsu (Ga 10,1-10)     
CN 4 PS  Năm A    Mục tử nhân lành      (ViKiNi)
CN 4 PS  Năm A    Được sống dồi dào      (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ)
Thứ Bảy tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Không thể bưng bít Tin Mừng (Mc 16,15-20)     
Thứ Sáu tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Lương thực trường sinh (Ga 6,52-59)     
Thứ Năm tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Bánh từ trời xuống (Ga 6,44-51)     
Thứ Tư tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Thấy và tin (Ga 6,35-40)     
Thứ Ba tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Bánh bởi trời (Ga 6,30-35)     
Thứ Hai tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Tin và hành động (Ga 6,22-29)     
CN 3 PS  Năm A    Có Chúa đồng hành (Lc 24,13-35)     

Tìm kiếm nhanh
Theo tên bài hát
A B C D Đ E F G
H I J K L M N O
P Q R S T U Ư V
W X Y Z 0   9
Theo ca sĩ
A B C D Đ E F G
H I J K L M N O
P Q R S T U Ư V
W X Y Z 0   9

Tìm kiếm audio
Tìm
Theo
Tìm chính xác
Gần chính xác

Công cụ nghe nhạc

Để nghe nhạc, computer của bạn cần có:


Thống Kê
Nhạc phẩm: 5727
Số Ca Sĩ: 214
Thành viên: 360
Thành viên mới:
anhmayly
Đang online: 346
Khách: 346
Thành viên: 0
17/09  Thánh Emmanuel Triệu


Emmanuel Nguyễn Văn TRIỆU, sinh năm 1756 tại Thợ Ðúc, Phú Xuân, Huế, Linh Mục, xử trảm ngày 17-9-1798 tại Bãi Dâu dưới đời vua Cảnh Thịnh, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 17-9.

Thánh Emmanuel Triệu sinh tại làng Kim Long, phủ Thừa Thiên, Kinh Ðô Phú Xuân thời bấy giờ. Cha ngài là cụ Cai Lương làm quan trong triều Chúa Nguyễn và đã từ trần khi đánh nhau với Tây Sơn. Cả hai ông bà cố là người Công Giáo đạo đức, sinh được người con duy nhất là Cha Triệu.

Theo bài tường thuật của Ðức Cha Labartette, bấy giờ là đại diện tòa thánh coi địa phận Ðàng Trong, thì chú Triệu khi lên 15 tuổi phải vào trong ngự lâm quân, theo lệ của những con cháu các người cùng quê quán với nhà chúa, đi đánh nhau với quân Tây Sơn. Chúa Nguyễn bị đánh bại phải trốn vào Ðồng Nai, Nam Việt. Tại Huế có một vị quan miền Bắc vào cai trị. Trong thời kỳ này Huế đang bị nạn đói kém, khoảng ba năm trời, chú Triệu phải giúp việc cho vị quan miền Bắc đang cai trị Huế. Khi quan này thuyên chuyển về Bắc, chú Triệu cũng theo chân ra Bắc để sinh sống. Tại Bắc, sau một thời gian suy nghĩ về những sự đổi thay của cuộc đời, chú Triệu quyết định đi tu và xin ở với một cha Dòng Tên. Sau đó chú lại đến ở với một vị thừa sai Dòng Ðaminh, lúc đó đang làm đại diện tòa thánh cai quản địa phận Ðàng Ngoài. Thấy thầy Triệu có tư cách nên đức cha cho thầy học thần học 6 năm trời và phong chức linh mục cho thầy.

Thế là Cha Triệu được sai đi coi sóc giáo dân nơi các cha Dòng Tên coi sóc trước kia. Ngài làm việc ở đó 5, 6 năm thì được phép về Phú Xuân thăm mẹ già đang ốm đau, ở chung với một bà đạo đức trong làng. Về tới quê nhà Cha Triệu liền đi chào Ðức Cha Labartette, là phó của Ðức Cha Bá Ða Lộc, tại một nơi cách Phú Xuân hai ngày đường. Ngài trình bầy lý do và trao thơ của hai đức giám mục miền Bắc cho đức cha và ở lại đó hai ngày. Rồi ngài trở về Phú Xuân để gặp mẹ. Ðộng lòng trước tình cảnh sống của mẹ, ngài đã làm cho mẹ một căn nhà để sống với mấy người cháu. Căn nhà vừa được xây xong thì có lệnh bắt đạo của vua Cảnh Thịnh. Ngày 8-8-1798, vua Cảnh Thịnh ra mật lệnh cho một số quan đi lùng bắt các đạo trưởng mà không có lý do nào. Cùng một ngày, cùng một lúc, ba đạo quân đến ba xứ đạo Công Giáo ngoài hoàng cung để bắt các cha thừa sai, vì nghĩ rằng thế nào cũng có linh mục người Âu tại một trong ba làng ấy. Thế nhưng họ không bắt được ai ngoài Cha Triệu, vì mới ở xa về không có ai thông báo cho ngài trốn đi. Ngài bị bắt ở họ đạo Thợ Ðúc, tại nhà ông Trùm Quyền, hồi trước đã xưng đạo nhưng lúc đó lại vắng mặt. Lính bắt ngài và tra hỏi ngài là ai. Thay vì dấu chức vụ linh mục của mình một cách dễ dàng, ngài đã khai ngay mình là một linh mục. Chúng liền đánh đập ngài cả thảy hai trận.

Gần nhà Cha Triệu bị bắt là nhà Dòng Mến Thánh Giá có khoảng chừng 30 chị. Lính cũng đến tịch thu các đồ đạc nhà dòng, bắt tất cả trừ vài chị vắng nhà. Họ trói các chị cứ 9, 10 người vào với nhau, các chị trẻ họ giải về Kinh Ðô, còn các chị đã lớn tuổi họ để lại nhà nhưng có lính canh gác. Mẹ Bề Trên rất đáng kính, chừng 70 tuổi, đứng dậy phản đối kịch liệt việc bắt các chị trẻ đi riêng và xin tất cả phải cùng ở với nhau, cùng đi đến triều vua với nhau. Tất cả các chị bị canh chừng hai ngày. Có một chị có người bà con quen thân với quan đã can thiệp xin tha cho các chị được tự do. Tuy nhiên nhà dòng bị phá bình địa, cả nhà Cha Triệu mới làm cho mẹ cũng bị phá luôn.

Chiều hôm bị bắt, Cha Triệu và hai học trò bị đánh đập với nhiều thầy giảng trong các làng nữa. Tất cả bị đưa về phủ chúa giam giữ. Quan thượng được lệnh bắt đạo chờ đợi Cha Triệu đến rồi nói với giọng khinh miệt: "Thiên hạ nói rằng thầy là người miền Bắc đến đây làm phù phép dối dân, dậy đạo cho họ phải không?"

Cha Triệu đáp: "Tôi không phải là người đàng ngoài, nhưng là người đàng trong, nơi sinh của tôi là làng Phú Xuân. Cha tôi là quan Cai Lương giúp việc cho chúa Nguyễn. Trong thời kỳ đói kém 20 năm qua tôi phải bỏ quê nhà để đi đàng ngoài. Ở đó tôi học đạo với một thầy cả và sau đó được làm linh mục. Vì đã bỏ nhà lâu năm nên tôi được trở về thăm mẹ ba tháng."

Quan thượng hỏi lại với giọng châm biếm: "Thầy có vợ con gì chăng? Họ ở đây hay ở đàng ngoài?"

Cha Triệu trả lời: "Tôi chẳng có vợ có con gì cả, vì từ nhỏ tôi đã bỏ thế gian và quyết giữ mình độc thân".

Từ đó quan ra lệnh giam ngài rất ngặt, cổ đeo gông rất nặng, chân mang xích sắt. Ngài bị giam như thế 40 ngày và chịu ba trận đòn, mỗi lần 20 gậy. Cơm họ cho ngài ăn bỏ trong mo cau bẩn thỉu. Với hình khổ và cuộc sống như vậy, ngài biết không sống lâu nên có đôi lúc ngài tỏ ra sợ hãi, nhưng rồi trấn tĩnh được ngài đã tỏ ra sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa. Nhất là khi các quan tra hỏi thì ngài lại đáp lời rất vững chắc. Ngoài nét mặt không thấy gì, nhưng qua lời nói trước mặt quan người ta có thể thấy được tâm hồn của ngài rất can đảm và hào hùng. Ngài dành nhiều thì giờ để suy gẫm và cầu nguyện, có khi giải tội cho các tù nhân khác. Cha Lộc có đến thăm ngài trong nhà tù.

Ngày 17-9, ngài được đưa ra tòa lần nữa, các quan xúi dục ngài: "Này, thầy có muốn bỏ đạo trở về thế gian và làm nghề khác không? Nếu thầy muốn, chúng tôi sẽ tâu vua tha cho".

Người ta kể lại rằng Cha Triệu đã cương quyết trả lời là ngài muốn chết hơn là bỏ không rao giảng đạo nữa. Tức thì ngài bị kết án tử hình ngay không hỏi han gì thêm. Cũng hôm đó các quan kết án tù 6 người trộm cướp đã bị bắt giam từ lâu. Hay tin ngài bị xử trảm, dân chúng lũ lượt kéo đến nhưng lính không cho vào. Lúc 10 giờ sáng hôm đó, Cha Triệu biết giờ chết đã gần tới liền đi chào và cám ơn binh lính coi ngục. Các lính trong đội hành quyết đến dẫn ngài đi. Trên đường ra ngoài thành, chúng để cho các giáo dân đến gần và tháp tùng ngài tới nơi hành quyết. Ngài đi vững chãi với gương mặt hớn hở. Theo thông lệ, lý do kết án phải được công bố với dân chúng trước khi xử người nào. Vì thế có một tên lính đi sau Cha Triệu và 6 tên khác mang bảng tội trạng. Bản án ghi: Mọi người phải biết. Danh Triệu con ông Nguyễn Văn Lương, người làng Bùi Xã Nha Miêu ngoại trang, huyện Tông Sơn, Ðàng Ngoài, làm nghề giảng đạo Hoa Lang cùng khuyên dụ dân chúng theo đạo ấy, là một thứ đạo rất gớm ghê. Bởi đó tội đáng chém.

Tới Bãi Dâu, nơi hành hình, lính tháo xiềng cho ngài, ngài liền quỳ gối cầu nguyện. Quan án có lệ cho mỗi người trước khi chết một quan tiền. Cha Triệu không muốn lấy nhưng quan nài ép nói là của vua ban không được từ chối, vì đó là tục lệ. Cha Triệu liền nhận và cho người nghèo, ngay lúc đó một tên lính tuốt gươm cầm tay, một tên khác đấm vào mặt ngài. Quan án liền mắng nó: "Giờ chưa có đến mà mày đã hành hạ thầy".

Quay về phía Cha Triệu, quan nói: "Thầy hãy ngồi xuống, giờ chưa có đến".

Cha Triệu liền hạ người xuống ngồi quì trên hai gót chân, ngước mắt lên trời cầu nguyện. Ðúng 12 giờ trưa, quan đến bên cha kính cẩn thưa: "Thầy, giờ đã đến".

Cha Triệu quì thẳng người lên, nghiêng cổ ra chờ đợi. Người lính đến chém một nhát, đầu ngài rơi xuống đất. Giáo dân ồ ạt đến để ôm xác ngài, có người lấy cả đất đã thấm máu. Cho tới hôm nay (tức là lúc Ðức Cha Labartette tường thuật) chỗ đó vẫn còn một lỗ to. Năm ấy cha được 42 tuổi.

Vì đang thời kỳ bắt đạo gắt gao nên giáo dân chôn cất ngài tại một nơi kín giữa người lương, chờ ngày có thể an táng ngài trọng thể. Xác ngài được cất giấu như thế trong 6 năm. Khi hòa bình trở lại vào năm 1803, Ðức Cha Labartette đã cho cải táng mộ ngài về nhà thờ mới làm tại Dương Sơn.

Còn các thầy giảng bị bắt với ngài chỉ bị giam giữ 15 ngày rồi được tha về, hai chú theo Cha Triệu bị giam cho đến ngày cha bị hành quyết rồi cũng được tha về đàng ngoài.

Đã đọc: 748


Đăng nhập

Nhớ cookie?

Quên mật khẩu
Đăng ký mới

Hình thành viên


Maria_Le

Bài Mới Đăng
CN 4 PS A: Mục tử nhân lành
CN 4 PS A: Cánh cửa cho đoàn chiên
CN 3 PS A: Khi khó khăn Chúa luôn đồng ...
CN 3 PS A: Chúa vẫn luôn đồng hành
CN 2 PS A: Bình An Cho Anh Em
CN 2 PS A: Lòng Chúa thương xót trong Kinh ...
CN 2 PS A: Thương xót, tha thứ và tìm lại
Phục Sinh: Ba nẻo đường dẫn tới ngôi ...
Lễ Lá năm A: Nỗi đau bị phản bội
Lễ Lá năm A: Thiên Chúa cho chính cái ...

Nghe nhiều tháng 05
Đẹp quá Giêsu ơi !
Thánh Antôn Nguyễn Đích
CN Truyền giáo: Cánh đồng truyền giáo
Mỗi người có một cái tên (Sinh viên)
CN 31 C: Ông Gia Kêu
Của cải vật chất
Con đã thua
Dâng Chúa Hài Nhi
Mầu nhiệm đức tin
Thánh Đa Minh Trạch

Đọc nhiều tháng 05
Xem Ti Vi
Niềm tin vào cuộc sống
Nói bởi trái tim
Nợ như chúa chổm
Chiều vợ
Nói dối


Album mới

 CN 4 Phục Sinh năm A 4

 CN 3 Phục Sinh năm A 3

 CN 2 Phục Sinh năm A 4


  Dòng Đa Minh Việt Nam
  Vietcatholic
  Kinh Thánh Các Giờ ...
  Gx. Đa Minh
  Dòng Đồng Công
  Công Giáo Việt Nam
  Tuổi mực tím

Trang chủ -|- Thành viên -|- Hướng Dẫn Sử Dụng -|- Tìm Kiếm