 Martinô Tạ Ðức THỊNH, sinh năm 1760 tại Kẻ Sặt, Hà Nội, Linh Mục, xử trảm ngày 08-11-1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 08-11.
"Ông Cụ Thối" là biệt hiệu quan Trịnh Quang Khanh đặt cho ngài mỗi khi gọi đến ngài, vì ngài vừa già vừa bị bệnh lở loét ở má xông mùi hôi thối không làm lễ được nữa. Quan phải giam riêng ngài ra để tránh cho người khác khỏi phải khó chịu.
Cha Martino Thịnh sinh tại làng Kẻ Sét, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Nội. Cha mẹ là bổn đạo mới, có 9 người con, Cha Thịnh là con thứ 8. Năm 18 tuổi, cha mẹ xắng xả hỏi vợ cho ngài và dân làng cũng đã cắt ngài đi lính, nhưng Chúa đã chọn ngài làm tông đồ của Chúa.
Khi chịu chức linh mục, Cha Thịnh được chọn làm thư ký cho Ðức Cha Longer (Gia). Có lần ngài được theo đức cha ra mắt vua Gia Long ở Hà Nội. Ðến khi Minh Mệnh ra Hà Nội tấn phong, đức cha cũng cử Cha Thịnh đến chào vua nhưng không được vào. Trước hết Cha Thịnh giúp xứ Cửa Bạng, sau đến xứ Ðồng Chuốị Tại Nam Xang, ngài coi xứ 20 năm rồi đổi đi coi xứ Trình Xuyên. Ban đầu cha còn làm lễ được nhưng về sau vết lở ở má lan rộng xuống môi dưới và chảy nhiều mủ ngài chỉ làm lễ riêng, không còn giúp giáo dân nữa. Tính Cha Thịnh rất mực thước và nghiêm ngặt. Khi khảo kinh bổn các trẻ em Rước Lễ Lần Ðầu mà không thuộc thì ngài giam không cho, đồng thời gọi cha mẹ đến quở trách. Ngài ăn chay các thứ Sáu quanh năm và cũng khuyên bổn đạo giữ chay như vậy. Khi làm phúc được mời đến nhà giáo dân ăn cơm thấy dọn cỗ long trọng, ngài thường trách họ: "Cha đi làm phúc chứ không phải đi làm tốn của tốn tiền của giáo dân".
Năm 1840 ngài đã 80 tuổi, ngài bỏ Kẻ Trình xuống nhà ông Chiền là cháu ông Thọ để chữa bệnh. Có dì phước Thanh đi theo để săn sóc. Cuối tháng 5 quan quân vây làng Kẻ Báng lúc đó ngài vẫn nằm trên giường vì đã yếu. Cha dặn dì Thanh: "Nếu lính có đến hỏi thì con lựa lời mà nói, cha làm thinh vì nếu nói ra là linh mục chúng nó làm hại đến làng và gia đình cho cha troï".
Trong hai ngày đầu, lính đi qua đi lại thấy ông già nằm trên giường liền hạch hỏi, dì Thanh thưa lại: "Ðó là cha tôi đã già ốm lại bệnh tật nữa".
Lính ngửi thấy mùi hôi thối nên sợ bỏ đi. Ðến ngày thứ ba, Cha Thịnh nghe tin Cha Nghi và Cha Ngân đã bị bắt, ngài không e dè nữa, định tâm nộp mình nên khi lính vừa hỏi có phải là đạo trưởng không, Cha Thịnh đã thưa lại ngay: "Phải tôi là linh mục".
Lính vẫn bán tín bán nghi, trình lại quan trước khi bắt. Quan đến nhà ra lệnh cho Cha Thịnh đạp ảnh.
Cha trả lời: - "Tôi không dám đâu".
- "Có phải ông là linh mục không?"
- "Vâng, tôi là linh mục".
- "Ðạp ảnh chối đạo đi ta tha cho".
- "Tới tuổi già này mà còn tham sống chối đạo sao? Tôi không bao giờ làm thế đâu. Tôi không dại gì mà sống thêm".
Cha Thịnh liền bị dẫn giải về Nam Ðịnh cùng với Cha Nghi, Cha Ngân và giáo dân. Ngài bị giam riêng trong nhà tù ở Trại Lá. Một tháng sau quan mới cho đòi các tù nhân ra tra hỏi. Lần thứ ba, quan muốn bắt ép Cha Thịnh bỏ đạo, nghĩ rằng ông cụ già dễ sợ chết, đánh ngài một trận 60 roi thật đau, nhiều hơn cả hai cha trẻ. Nhưng Cha Thịnh một lòng cương quyết xưng đạo. Từ đó quan thôi không bao giờ đánh đập cha nữa mà chỉ gọi ngài là ông cụ thối. Cha cũng bị phơi nắng hai lần ngoài sân với các cha khác.
Trong bản án có kê khai lý lịch của ngài như sau: Ðạo trưởng Tạ Ðức Thịnh sinh quán tỉnh Hà Nội, phủ Thường Tín, huyện Thanh Trì, làng Thinh Liệt. Về tội phạm và hình phạt cũng giống như bản án của Cha Nghi và Cha Ngân.
Ngày hành quyết cha được hai người khiêng trên võng ra nơi xử. Vì già cả cha không quì đúng thế được nên lý hình phải chém tới ba nhát mới đứt đầu. Xác cha được giáo dân đem về an táng tại Nam Xang là nơi cha đã coi lâu nhất.
Đã đọc: 897 |