 Ðaminh Nguyễn Văn XUYÊN, sinh năm 1786 tại Hưng Lập, Nam Ðịnh, Linh Mục, Dòng Ða Minh, xử trảm ngày 26-11-1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 26-11.
Thánh Ðôminicô Xuyên sinh năm 1786 tại làng Hương Cáp tỉnh Nam Ðịnh. Ngài là con một trong một gia đình rất hiền lành đạo đức. Ngài học hành rất sáng dạ, cha mẹ liền cho đi học chữ nho, rồi khi đã lớn đưa vào nhà xứ xin Ðức Cha Y coi sóc. Dù bận công việc học hành, nhưng ngài vẫn không trễ nải việc đạo đức. Ngài nổi tiếng là dễ dạy và chịu khó. Ðức Cha Y thấy ngài có nhân đức, gửi ngài vào trường La Tinh tại Lục Thủy. Năm 33 tuổi, ngài được đức cha phong chức linh mục. Sau đó, ngài xin gia nhập dòng Ða Minh, và khấn dòng ngày 20-4-1820 tại trường La Tinh làng Lục Thủy.
Trong vụ điều tra phong Á Thánh cho ngài, nhiều người đã làm chứng là ngài rất có lòng sốt sắng, siêng năng giữ lề luật dòng, hay ăn chay, nguyện ngắm, và hay thương kẻ nghèo khó. Người vẫn bảo kẻ canh cổng rằng: "Hễ có kẻ khó nào đến xin ăn thì phải cho, dù cơm của cụ dùng cũng phải cho, còn dư bao nhiêu thì cụ sẽ dùng".
Vào trong ngục, ngài cũng giữ đức bác ái như vậy. Khi con chiên bổn đạo đem tiền bố thí cho ngài, ngài lại chia sẻ với các tù nhân trong ngục.
Lòng bác ái của ngài đã trội vượt, mà lòng thương con chiên và lo lắng phần hồn cho họ còn trội vượt hơn. Ngài phụ trách một vùng rất rộng lớn, vừa đi giảng dạy, vừa ban các bí tích. Ngài chu toàn nhiệm vụ của một cha sở đầy nhiệt thành, dù thời đó đang có cuộc bách hại đạo gắt gao. Ngài được Ðức Cha sai về làm phó xứ Phạm Pháo, rồi về xứ Kẻ Mèn làm phó xứ chừng bốn năm. Trong thời gian này ngài đã siêng năng giúp nhiều người trở lại đạo, đồng thời lập một họ lẻ gọi là họ Vinh Sơn. Người ở xứ Vinh Sơn một thời gian rồi đổi về coi sóc con chiên bổn đạo xứ Ðông Xuyên khoảng 13 năm. Tại đây Chúa ban cho ngài được bảy năm thái bình, nhưng sáu năm sau thật nhiều khốn khó: nào mất mùa, đói khát, cướp bóc, hạn hán. Bổn đạo rất cực khổ, và ngài cũng cùng chung số phận ấy. Bị hạn hán, dân chúng coi đó như là một hình phạt của trời. Dân chúng đói khổ sinh ra trộm cướp. Giặc giã nổi lên cướp bóc và đốt phá dân làng. Giặc cướp còn đánh đập và giết những ai cả gan chống đối họ. Giặc cướp cũng vào trong nhà xứ và nhà thờ để cướp phá, có lần ngài mất cả đồ lễ. Người bằng lòng chịu sự khốn khó, và nói với giáo dân: "Nếu Chúa không muốn cho cha dùng đồ ấy nữa, thì cha xin bằng lòng chẳng dám kêu trách".
Cuộc bách hại đạo của Minh Mệnh, càng ngày càng khốc liệt hơn, đức cha sai ngài về tiểu chủng viện Ninh Cường giúp Cha Giuse Hiền. Sau 18 tháng, ngài lại có lệnh về giúp Ðức Cha Y ở Bùi Chu. Chẳng bao lâu sau, Ðức Cha Y phải trốn qua làng Kiên Lao, và bị bắt ở đó. Quãng tháng 5 năm 1838, Cha Xuyên tiếp tục coi sóc con chiên mình hơn một năm nữa, chẳng bao giờ được bằng an. Ngài phải lẩn trốn nay đây mai đó để cử hành Thánh Lễ ban đêm và an ủi nâng đỡ giáo dân trong thời bách đạo.
Ngày 18-8-1839, ngài đi làm lễ tại họ Phú Ðường, rồi trở về Hạ Linh ngay. Hôm đó là lễ Thánh Joachim, quan thầy của họ đạo. Một người giáo viên, quen biết ngài khi ngài còn ở Bùi Chu, biết ngài đang ở Hạ Linh, đã đi tố cáo ngài với quan ở gần đấy.
Quan liền đi vây hai làng ấy ngay. Sáng ngày 18, lính ẩn núp ngoài lũy để rình bắt ngài. Và khi Cha Xuyên bắt đầu mặc áo làm lễ, thì tiếng tù và, chiêng trống nổi lên. Cha cố gắng tìm chỗ trú ẩn nhưng không kịp nên bị quân lính bắt giữ. Ðồng lúc quân lính vây hãm, trong làng cũng có một cha khác nữa đang làm lễ, cha này vội vã rước Mình Máu Thánh rồi chạy trốn tại hầm trú ẩn gần đó. Còn hang trú ẩn của Cha Xuyên thì xa quá nên không kịp.
Bị điệu tới trước mặt quan, cha bị tra hỏi lý lịch và nghề nghiệp. Cha Xuyên trả lời: "Tôi là Cụ Xuyên, linh mục Công Giáo. Tôi không thuộc về làng này nhưng về làng khác".
Quan đưa cho ngài cây thánh giá, và hỏi ngài: "Ông có biết ông Chúa này không?"
- "Có, Ngài là Chúa Giêsu mà chúng tôi thờ".
- "Nếu cụ có tiền, chúng ta sẽ lo liệu cho".
- "Nếu quan làm ơn làm phúc tha cho thì tôi có nhờ, nếu quan bắt tôi, thì tôi phải vâng. Tôi không có tiền gì cả, ngoại trừ cái thân nghèo này".
Cha Xuyên lập tức bị trói và đóng gông giải về phủ Xuân Tràng. Khi giáo dân Hạ Linh thấy ngài bị bắt đã đến phủ xin chuộc ngài. Tuy nhiên Cha Xuyên khuyên bảo họ: "Các con cứ lo liệu cho họ đạo của mình thôi, còn phần cụ cứ để thánh ý Ðức Chúa Trời định liệu. Chúa đã thương cụ như vậy, thì chẳng mất tiền chuộc làm chi, kẻo lại trái thánh ý Chúa".
Dù ngài có nói thế nào đi nữa, bổn đạo vẫn không nghe, cứ đến quan phủ xem có thể chuộc được ngài chăng. Quan trả lời dân rằng: "Tội chúng bay thì liệu thế nào cũng xong, còn tội cụ thì không thể xong được vì quan trên đã biết rồi. Dù quan phủ có muốn tha mặc lòng cũng không dám đâu".
Bổn đạo buồn bã ra về, có người đi trình Cha Xuyên rằng: "Chúng con đã làm hết sức mà không được xin cha vui chịu vâng theo thánh ý Chúa. Xin cha nhớ cầu nguyện cho chúng con".
Cha Xuyên trả lời: "Chúa đã định như vậy thì chẳng ai làm khác được, chúng con cứ cầu cho cha được chịu khó cho nên".
Ngài phải đeo gông rất nặng, cần hai người nâng đỡ mới đi lại nổi. Khi đến gần tỉnh quan không cho ai giúp đỡ ngài nữa, ngài phải mang gông lấy một mình. Ðể chóng về tới tỉnh quân lính buộc dây vào đầu gông và lôi kéo ngài đi. Từ lúc bị bắt, Cha Xuyên chỉ biết một điều là vâng theo thánh ý Chúa. Ngài có thể nói dối để nhân viên chức dịch có cớ tha ngài mà ngài không chịu. Chẳng hạn khi ngài ở trong tù, một viên chức dịch tới thăm ngài, nói với ngài: "Tôi rất buồn bực về thái độ của cha, khi cha biết quân lính vây làng sao cha không lẩn trốn với dân để chạy, hay ra đầu thú như dân chúng. Nếu làm thế có ai biết cha là cụ đâu? Và khi hỏi cha có phải là linh mục không, tại sao cha lại nói cha là linh mục?"
Cha chỉ trả lời: "Tất cả là thánh ý Chúa, hơn nữa tôi cũng không thể nói dối".
Cùng ngày, ngài bị áp giải về tỉnh, quan tổng đốc không thèm tra hỏi, chỉ truyền quân lính tống giam cha vào ngục và bắt nhịn đói. Ngày hôm sau, cha bị điệu ra tòa thẩm vấn. Tại phiên tòa, quan hỏi ngài: "Ngươi là một tên có máu mặt và thế giá trong làng, tại sao ra nông nỗi này? Tên ngươi là gì? Ở làng nào và làm nghề gì?"
- "Thưa quan lớn, tôi là Ðôminicô Xuyên, quê cha tôi ở làng Hương Cáp, mẹ tôi ở làng Sa Cát, khi tôi còn bé đi giúp Ðức Giám Mục Y, người cho tôi được làm cụ trong đạo".
- "Từ ngày làm cụ thì ngươi ở đâu và làm những gì?"
- "Khi vua chưa cấm đạo thì tôi ở làng Ðông Xuyên giảng đạo cho người ta biết đạo Thiên Chúa là đạo thật, về sau khi vua cấm đạo thì tôi ở nhiều nơi. Sợ người ta bắt nên tôi phải ẩn ở nhiều nơi, lúc ở nơi này lúc ở nơi kia".
Quan truyền đưa tượng chịu nạn lại cho ngài và bảo ngài: "Nếu ông vâng lời nhà vua mà dẵm lên tượng chịu nạn này, và bỏ đạo hẳn thì ta tha, bằng không thì ông phải chết, như nhiều người khác đã chết rồi".
Quan còn dùng nhiều lời ngon ngọt để dụ dỗ ngài. Tuy nhiên ngài quỳ xuống, để tay vào ngực rồi lạy tượng chịu nạn, rồi thưa cùng quan rằng: "Bẩm quan lớn, quan lớn thương tôi thì tôi cám ơn bội phần, còn bước qua Chúa tôi thì tôi chẳng dám". Quan lớn tức giận xỉ vả ngài. Các lính đứng bên thấy vậy khuyên nhủ ngài: "Ông cứ xuất giáo đi kẻo chết thì hoài".
Ngài đáp lời quân lính: "Chết thì chết chứ tôi chẳng dám bước qua Chúa tôi đâu".
Quan tức giận truyền lệnh quân lính: "Chúng bay đem nó ra mà đánh chết đi, cứ việc đánh nát xác cái thằng ngu dại này".
Thừa lệnh quan, lính nọc ngài ra, buộc chân tay ngài rất chặt chẽ, chúng kéo lôi ngài mạnh đến nỗi sái cả khớp xương của ngài, rồi đánh đập ngài. Ngài chỉ luôn miệng kêu: "Giêsu Maria, lạy Chúa tôi, xin cứu lấy tôi".
Quan giục đánh mãi cho tới chết. Sau vì sức ngài có hạn nên ngài ngất đi. Quan lại tưởng là ngài đã chết, vì ông truyền cho ngài đứng lên lạy tạ mà về nhưng ngài không biết gì hết. Sau cùng quân lính phải dìu ngài về ngục thất.
Bảy ngày sau ngài vẫn còn đau đớn vì vết thương do trận đòn vừa qua, quan lại đòi triệu ngài lên thẩm vấn lần nữa. Quan dùng đủ mọi cách bắt ngài quá khóa. Lần này ngài cũng bị đánh đập, tuy nhiên Thiên Chúa đã ban cho ngài ơn can đảm, và cũng cảm thấy bớt đau hơn những lần trước. Ngài đến trước mặt quan và nói rằng: "Tôi dù sống chết cũng không bỏ đạo Thiên Chúa. Tôi không dám bước qua tượng Chúa tôi là Chúa cả trời đất. Tôi thà chết mà sống cùng Chúa tôi ở trên trời chứ nhất định không nghe các quan cho được sống một ít lâu rồi phải chết vô cùng".
Quan giận quá quát lớn: "Ta chẳng nghe thằng ngu dại này nữa. Nó đã uống thứ thuốc bùa nào mà không dạy bảo được nữa, cứ việc đánh đòn mà thôi".
Quân lính được lệnh lại trói ngài vào cột trụ và đánh ngài 30 roi. Dù bị đánh, ngài không hề than vãn một tiếng, khiến quan tổng đốc ra lệnh cho quân lính ngừng tay. "Cỡ này thì không dạy được nữa, chỉ còn đem đi giết mà thôi".
Quan tổng đốc liền truyền lệnh làm bản án để xử tử ngài. Ðang khi quan truyền nghị án, thì có đứa tâu với quan rằng: "Người này là kẻ kế quyền tên Giám Mục Y và giữ nhiều của cải của ông ấy".
Vừa nghe thế, quan động lòng tham, liền ngưng lệnh xử án tử, để quan tra xét thêm. Quan bắt ngài đến trước mặt vào lúc ban đêm, ông đặt ra các hình cụ thật dữ tợn để đe dọa, và dùng những lời đường mật để buộc ngài phải khai chỗ giấu của. Cha thánh tâu với quan rằng: "Bẩm quan lớn, tôi chẳng được nối quyền người đâu. Tôi có ở với người mãi đâu, khi còn bé thì người nuôi tôi, cho tôi vào chủng viện. Ðến khi tôi lớn thì cho tôi làm cụ đạo. Tôi chỉ được gặp người mỗi năm một lần mà thôi. Tôi chẳng biết của cải nào của người sốt".
Ðang còn bực tức và tham lam, quan truyền quân lính nung kìm đỏ lên rồi kìm chín thịt ngài. Ngài chịu hình khổ dữ tợn như vậy mà không một lời than khóc hay kêu la. Thấy kìm chín không làm ngài hoảng sợ, quan truyền kìm sống. Lúc này ngài đau đớn quá nên bất tỉnh nhân sự. Một lúc lâu ngài mới tỉnh lại. Quan lại truyền đem ngài vào giam trong ngục thất. Ở đây vì thiếu thuốc men, thịt của cha thối tha xông mùi hôi hám, không ai chịu nổi. Bấy giờ quan mới cho phép thầy thuốc vào chữa trị.
Có lần, một nữ tu tên Maria Nụ được vào thăm ngài. Vị nữ tu này còn vào nhiều lần nữa để lấy nước nóng và thuốc buộc vết thương cho cha. Các lần đến thăm này, bà chỉ thấy cha đọc kinh và lần hạt mân côi. Cha nói với bà là thế nào cha cũng sắp được phúc tử vì đạo rồi. Với đầy lòng khiêm nhường, ngài xin nói với giáo dân cầu nguyện cho ngài. Ðối với những giáo dân đến thăm ngài, ngài không quên trực tiếp xin họ cầu nguyện cho. Có lần vì thịt ngài bị thối rữa đau đớn quá đến nỗi ai cũng tưởng ngài chết. Tin này đồn ra khắp thành, quan trấn sợ ngài chết trước khi có lệnh vua nên triệu y sĩ tới bắt phải cứu ngài để ngài sống cho tới ngày vua ra lệnh xử.
Ngày 25-10-1839, quan viết án tử và gửi về kinh xin vua xử tội. Ngày 12-11, vua cho chiếu chỉ hạ lệnh xử trảm Cha Xuyên. Vài ngày trước khi bị xử tử hình, ngài may mắn được chuyển nhà tù, ở đây cha gặp Cha Tôma Ðinh Viết Dụ. Hai đấng ban bí tích cho nhau và khuyến khích nhau chịu khó vì đạo Chúa.
Ngày 26-11-1839, cha và Cha Dụ bị điệu đến pháp trường Bảy Mẫu. Ở đây, sau khi lý hình cởi gông và bẻ xiềng xích, chúng buộc hai cha vào cột trụ. Hai cha quỳ gối, chắp tay ngước mắt lên trời cầu nguyện. Lý hình chém cha đến nhát thứ ba đầu cha mới rơi.
Sau khi xử trảm ngài, bổn đạo chạy xô vào lấy gông cùm, xiềng xích và thu thập thể xác của ngài. Họ bỏ ngài trong quan tài đã chuẩn bị sẵn và chôn cất tại một nơi gần đó. Ðến tháng Giêng năm 1841, mộ ngài được cải táng mang về chôn tại trường La Tinh làng Lục Thủy.
Đã đọc: 931 |