Tin Vui
MỞ RỘNG | THU GỌN

Suy niệm Tin Mừng
Thứ Năm tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Đọc và thực hành Lời Chúa (Ga 13,16-20)     
Thứ Tư tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Tin vào Đấng được sai đến (Ga 12,44-50)     
Thứ Ba tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Thuộc về đàn chiên của Chúa (Ga 10,22-30)     
Thứ Hai tuần lễ 4  Mùa Phục Sinh    Đi theo vị mục tử nhân lành (Ga 10,11-18)     
CN 4 PS  Năm A    Can đảm bước qua cửa Giêsu (Ga 10,1-10)     
CN 4 PS  Năm A    Mục tử nhân lành      (ViKiNi)
CN 4 PS  Năm A    Được sống dồi dào      (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ)
Thứ Bảy tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Không thể bưng bít Tin Mừng (Mc 16,15-20)     
Thứ Sáu tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Lương thực trường sinh (Ga 6,52-59)     
Thứ Năm tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Bánh từ trời xuống (Ga 6,44-51)     
Thứ Tư tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Thấy và tin (Ga 6,35-40)     
Thứ Ba tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Bánh bởi trời (Ga 6,30-35)     
Thứ Hai tuần lễ 3  Mùa Phục Sinh    Tin và hành động (Ga 6,22-29)     
CN 3 PS  Năm A    Có Chúa đồng hành (Lc 24,13-35)     

Tìm kiếm nhanh
Theo tên bài hát
A B C D Đ E F G
H I J K L M N O
P Q R S T U Ư V
W X Y Z 0   9
Theo ca sĩ
A B C D Đ E F G
H I J K L M N O
P Q R S T U Ư V
W X Y Z 0   9

Tìm kiếm audio
Tìm
Theo
Tìm chính xác
Gần chính xác

Công cụ nghe nhạc

Để nghe nhạc, computer của bạn cần có:


Thống Kê
Nhạc phẩm: 5727
Số Ca Sĩ: 214
Thành viên: 360
Thành viên mới:
anhmayly
Đang online: 256
Khách: 256
Thành viên: 0
26/07  Chân phước Anrê Phú Yên


Các vị thừa sai vẫn coi giáo hội Việt Nam còn non nớt vì chưa có ai đổ máu đào ra chứng minh lòng trung thành. Thì đây máu đào của Thầy Anrê đã làm cho Cha Ðắc Lộ hết sức khâm phục, và cùng với cha bao nhiêu người khác được biết đến và khâm phục đức tin kiên cường của người Việt Nam. Hiện tại ở Macao có một nhà thờ giữ hài cốt các vị tử đạo thời kỳ này và có lưu trữ hồ sơ án phong Á Thánh cho Thầy Anrê. Sách Cha Ðắc Lộ chép về cuộc tử đạo của thầy được dịch ra tiếng Bồ Ðào Nha và xuất bản tại Macao năm 1981. Sau đây là nội dung cuộc tử đạo của thầy dưới ngòi bút điêu luyện của Cha Ðắc Lộ.

Không có tài liệu nào cho biết tên thật của thầy, chỉ được biết quê quán của thầy ở Phú Yên. Theo niên hiệu tử đạo và tuổi tác thì có lẽ thầy sinh vào năm 1625. Theo tài liệu hoạt động của Cha Ðắc Lộ chúng ta có thể suy đoán là thầy được rửa tội năm 1641 và được khấn trong bậc thầy giảng năm 1643 tại Hội An. Thầy Anrê đã được thụ huấn với Thầy Inhaxio, truởng đoàn các thầy giảng.

Ngày 25-7 vào khoảng trưa, lính đến nhà Cha Ðắc Lộ để bắt Thầy Inhaxiô theo lệnh của ông Nghè Bộ, nhưng cả hai đã xuống thuyền với ý định lên chào thăm ông, vì nghe tin ông từ kinh mới về. Thầy Anrê hôm ấy tình nguyện ở nhà để săn sóc cho một thầy khác đang ốm. Trước những hành động hung hăng phá phách của lính, Thầy Anrê điềm nhiên nói với họ: "Nếu các ông muốn bắt Thầy Inhaxiô thì vô ích, vì thầy không có ở nhà. Còn nếu muốn bắt tôi thì cứ bắt, vì tôi cũng là người Kitô và còn là thầy giảng nữa. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho Thầy Inhaxiô. Nếu thầy ấy có tội thì tôi làm sao vô tội được".

Binh lính xông vào nhà giật các ảnh tượng và lôi thầy đang ốm đứng dậy. Thầy Anrê lại nhỏ nhẹ nói: "Nếu các ông quyết định lấy những ảnh đạo ấy thì cứ để tôi xếp lại cẩn thận cho, càng dễ mang theo".

Ðồng thời thầy còn nài xin để thầy đang bị ốm được bình yên. Trong khi đó Cha Ðắc Lộ vừa đến dinh quan nghè thì được một người Bồ Ðào Nha đến báo tin việc xảy ra tại nhà. Cha liền cho lệnh các thầy trốn đi, còn cha và người Bồ Ðào Nha đó vào dinh cố thuyết phục ông nghè. Gặp cha, ông nghè sửng sốt nói ngay: "Thượng Vương rất giận ông vì ông cả gan đi khắp xứ truyền bá một thứ đạo mới làm cho người ta mất hết tinh thần đạo giáo của tổ tiên. Thượng Vương không nỡ hại ông vì ông là người ngoại quốc, nhưng ông phải rời nước ngay nếu không Thượng Vương sẽ nổi cơn thịnh nộ và phạt ông xứng tội trạng. Còn những người kia là thần dân họ phải tuân lệnh không được theo đạo ông giảng. Nếu họ còn cố chấp sẽ bị coi là phản bội và sẽ bị xử theo tội ấy".

Cha Ðắc Lộ biện bạch: "Tôi đến xứ Nam Việt và ở lại đây chẳng vì mục đích nào khác ngoài ý muốn giữ trọn giới răn Chúa, là Ðấng mà Thượng Vương cũng như tôi và các vua chúa thế gian đều phải thờ phượng kính mến. Cho đến nay tôi vẫn rao giảng đức tin song không hề cưỡng bách ai theo. Nhưng nếu ai nhận biết sự thật mà tin theo lẽ nào tôi độc ác đến nỗi ngăn cản họ, và làm như vậy là phạm một tội ghê gớm nhất. Vả lại ngoài việc giảng đạo làm sáng danh Thiên Chuá, tôi hoàn toàn vâng phục mọi lề luật của chúa thượng và của quan lớn nữa. Nhưng không một sự vật gì ở đời này có thể làm cho tôi phản bội Thiên Chúa để làm đẹp lòng người thế gian. Về điểm này tôi chẳng sợ hình phạt, cũng chẳng sợ chết. Thượng Vương và quan lớn có thể giết tôi song không thể làm cho tôi đổi ý. Thượng Vương và quan lớn đừng khép tội các giáo hữu, hãy trách cứ mình tôi vì chính tôi giảng dậy và rửa tội cho họ".

Tối hôm ấy cha vào tù thăm cụ già Anrê cũng mới bị bắt giam trong nhà tù tối tăm khó chịu. Ngài thuật lại: "Cổ ông đeo gông nặng như các tù nhân trọng tội ở nước này, nhưng ông lại coi đó là một cây kiềng danh dự. Ông không cho đó là cực nhọc mà lại lấy làm vinh hạnh. Ông tỏ ra vui mừng trong xiềng xích, khác nào một Thánh Phaolô thứ hai trong ngục tù vậy".

Cũng tối hôm ấy bọn lính giải Thầy Anrê đến trước mặt ông nghè. Thấy người thanh niên trẻ tuổi, ông sừng sộ với toán lính sao lại bắt người hiền lành như thế mà không bắt Inhaxiô. Bọn lính thưa lại: "Inhaxiô đi vắng, nhưng người trẻ này cũng thuộc hạng như Inhaxiô, dọc đường vẫn còn cố chấp giảng đạo cho chúng tôi".

Ông nghè lấy lời ngon ngọt dụ dỗ và hứa hẹn giúp Anrê xây dựng một tương lai sáng lạn. Nhưng gặp thái độ cương quyết và say mê đạo của thầy giảng trẻ tuổi, quan nghè phải khựng lại và tức tốc ra lệnh đóng gông thật nặng và giam chung với cụ già Anrê.

Sáng ngày 26-7, ông nghè triệu tập phiên họp các quan để ra án tử. Ngay sau khi các quan đồng lòng lên án, họ mới đưa hai tù nhân ra để nghe án. Cha Ðắc Lộ thuật lại thái độ của hai người: "Họ bước đi vững mạnh, không hề sợ hãi, lại hân hoan như đi dự tiệc cưới vậy. Vai mang gông nặng nhưng họ vẫn tỏ ra khoan khoái dễ chịu, vì đó là xe chở họ về nước thiên đường".

Bản án gồm hai phần: trước hết xử tử hai người nội trong ngày hôm đó, và thứ đến đốt các đồ đạo. Trong khi chờ đợi hành quyết, Cha Ðắc Lộ và người Bồ Ðào Nha lại vận động một lần nữa xin trả ảnh đạo lại, lấy lẽ Thượng Vương đã cho phép họ đến buôn bán và họ phải mang theo các đồ đạo để giữ đạo. Quan hứa trả đồ lễ, nhưng ảnh thì phải đốt. Tiếp đến họ xin tha mạng cho hai người vô tội, lấy lẽ chưa có người Công Giáo nào phạm lỗi với Thượng Vương, vì phép đạo dậy phải kính đấng bề trên, yêu kẻ bề dưới, nộp thuế cho vua và làm lành lánh dữ. Họ cũng nói rằng Thượng Vương sẽ không nỡ giết một cụ già 73 tuổi và một thiếu niên 19 tuổi không bao giờ trộm cắp nhưng vẫn một lòng trung thành với Thượng Vương, còn tín ngưỡng là quyền tự do riêng của mỗi người lựa chọn để lo việc cứu linh hồn mình về đời sau. Quan trả lời: "Vụ xin cho lão già đã 73 tuổi được sống với con cháu ít lâu nữa, cứ lẽ ấy thì chẳng đáng tha. Vì tôi đã hỏi lão ba bốn lần có phải là bổn đạo chăng thì lần nào lão cũng nói là bổn đạo đã lâu năm, không chịu bỏ đạo Ðức Chúa Trời và sẵn lòng chịu phạt thế nào cũng được. Lời lão già nói rất dại, vì cứng cổ thì càng dại, nhưng đã dại thì ta tha cho sống. Còn người trẻ thì không tha được vì y bạo ngược và cả lòng, lại quyết mình không lầm, cứ nói rằng mình là bổn đạo thờ Chúa Trời Ðất, dù cách nào cũng không bỏ, lại sẵn sàng chịu mọi hình phạt, cả đến mất mạng sống nữa. Nếu như khi ấy y nói với tôi là mình nghèo khó phải đi ở với giáo sĩ để có ăn thì tôi tha. Song cả lòng thì chết".

Một lần nữa họ cố nài nỉ, luận lý rằng cả hai người có đạo sao lại tha một người, giết một người. Cha Ðắc Lộ cũng nói: "Nếu theo đạo không phải là một tội thì thanh niên kia sao phải chết? Còn như theo đạo là có tội thì tại sao tôi không được chết như anh ta. Vậy tôi xin tuyên bố công khai là tôi có đạo, tôi giảng đạo và tôi rửa tội cho tất cả những ai theo đạo".

Không thành công, Cha Ðắc Lộ xuống nhà tù để yên ủi và sửa soạn cho hai người lính can trường của Chúa đi lãnh triều thiên tử đạo. Ông Anrê đã mặc áo chỉnh tề mà không được vinh dự tử đạo nên rất buồn. Mọi người chạy đến ôm hôn Thầy Anrê, thầy chỉ ấp úng thưa: "Tôi là kẻ có tội, xin cầu nguyện cho tôi".

Binh lính thấy thái độ người ngoại quốc trọng kính người sắp chết vì đạo như vậy thì rất ngạc nhiên, đồn thổi khắp cả thị trấn làm bao nhiêu người tò mò tuôn đến nhà lao. Lợi dụng cơ hội, thầy khuyên mọi người: "Hỡi anh chị em, đối với Chúa Giêsu rất yêu dấu, chúng ta hãy lấy tình yêu mà đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu chết và đau khổ vì chúng ta, chúng ta hãy lấy sự sống mà đáp lại sự sống".

Với người bên lương, thầy nói với họ: "Các anh chị em thấy rõ tôi đây đã bị bắt và sắp phải chết, chẳng phải vì ăn cướp giết người hay làm thiệt hại ai, mà chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa Tể trời đất và Con một Người xuống thế chịu chết chuộc tội cho chúng ta. Mọi sự chúng ta có đều do nơi Người. Thế mà người ta lại muốn tôi phạm đến Người. Tôi chẳng sợ bất cứ hình phạt nào người ta bắt tôi phải chịu, tôi chỉ sợ lửa hỏa ngục đời đời, là hình phạt dành cho kẻ không tin thờ Thiên Chúa. Anh chị em hãy coi chừng, đừng từ chối ơn Ðức Chúa Trời ban, phải liệu sao cho khỏi bị xử phạt đời đời".

Thỉnh thoảng thầy lại hỏi: "Sắp đến giờ chưa, tôi đã sẵn sàng rồi mà sao người ta lại chậm thế, còn chờ gì nữa." Thầy còn nói: "Tôi tưởng như cửa thiên đàng đã mở ra cho tôi, tôi thấy Chúa Giêsu đang đứng trước cửa đó để đón nhận tôi, bao nhiêu thánh tử đạo giơ cho tôi xem mũ triều thiên và cành thiên tuế. Ôi, thiên đàng, hạnh phúc dường nào, mau mau cho tôi về thiên đàng. Tại sao người ta trì hoãn lâu vậy?"

Chờ đã lâu mà mặt trời vẫn còn cao, Thầy Anrê than: "Sao mặt trời chẳng chịu lặn xuống cho chóng".

Người ta đem thức ăn đến, thầy chỉ ăn một chút theo lời Cha Ðắc Lộ khuyên để có đủ sức ra tới pháp trường, rồi uống một ly nước và nói: "Thế là đủ! Tôi để dành bụng ăn tiệc thiêng liêng dọn trên thiên đàng".

Từ khi có tin báo giờ đã gần, thầy thầm thĩ đọc kinh Tin, Cậy, Mến và kêu tên cực trọng Chúa Giêsu và Mẹ Maria luôn mãi. Tới giờ, lính đến điệu thầy ra pháp trường. Một tên lính đi đầu thỉnh thoảng rao lệnh: Vì theo đạo Bồ Ðào Nha nên phải phạt. Còn một người lính khác thì đánh thanh la. Thầy Anrê đeo gông, đi giữa đám lính cầm giáo mác sẵn sàng. Bọn lính đi rất nhanh và họ đi qua tất cả các phố lớn ở Dinh Chiêm trước khi ra cánh đồng lớn. Khi tới nơi, Cha Ðắc Lộ xin nói vài lời nâng đỡ. Thầy Anrê quì dưới đất, từ chối tấm chiếu mới mà Cha Ðắc Lộ trải ra. Lý hình tháo gông và Thầy Anrê nói lời từ biệt với mọi người: "Hỡi anh chị em, chúng ta hãy trung tín với Chúa Kitô cho đến hết hơi, cho đến trọn đời".

Người lý hình biết nạn nhân là người tốt lành nên trước khi hành quyết cũng lâm râm cầu khẩn: "Lạy trời, nếu tôi có phạm tội vì giết người này thì xin tha cho tôi, vì tôi chỉ là người thừa hành".

Nói rồi anh đến đằng sau lưng, đâm Thầy Anrê từ giữa hai bả vai thấu suốt ra trước ngực. Thầy quay qua chào Cha Ðắc Lộ, nhưng cha bảo thầy ngước lên trời. Thầy vẫn không ngớt kêu lên thánh danh Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Người lý hình đâm thêm ba nhát, và cuối cùng một người lính khác chém đầu cho đứt hẳn. Cha Ðắc Lộ làm chứng là vẫn còn nghe thấy tên Giêsu phát ra từ cuống họng thầy. Thánh Danh Giêsu không thể phát ra đàng miệng thầy nữa, thì lại phát ra từ trái tim thầy, ngay đang lúc thôi đập để tỏ rằng trái tim nầy dầu có chết cũng còn giữ mãi thánh danh kia, và khi không thể dùng miệng lưỡi mà ca ngợi tên cực trọng Giêsu được nữa thì thầy dùng chính vết thương mình mà ca ngợi Thiên Chúa.

Xác Thầy Anrê ngả xuống đất, quân lính bỏ đi, giáo dân liền đến vây quanh thấm máu và chia nhau những di tích. Riêng Cha Ðắc Lộ đã mang sẵn tấm vải mới để thấm tất cả máu từ năm vết thương chảy ra và giữ như một thuốc thơm, một linh dược chữa lành mọi bệnh. Cha Ðắc Lộ giảng một bài ngắn về ý nghĩa cái chết tử đạo và kết luận: Trước mắt người vô đạo, họ coi như đã chết... nhưng thật ra họ đang sống bình an. Giáo dân đã mang sẵn quan tài để đặt thi thể của thầy cùng với những nhánh cỏ vấy máu. Quan tài được chở về Hội An. Các thầy bạn của Thầy Anrê, không được Cha Ðắc Lộ cho phép đến chỗ xử vì sợ bị bắt, khi vừa trông thấy quan tài đã khóc oà lên và sấn lại ôm lấy. Các thầy than thở với Cha Ðắc Lộ: "Tại sao cha giữ chúng con ở nhà, không cho chúng con đến xưng đạo trước mặt quan? Bao nhiêu con cái cha đều cò thể là bấy nhiêu người tử đạo. Chúng con đều có can đảm chịu chết như Anrê. Kìa thầy ấy tự trên trời đang gọi chúng con, giơ triều thiên cho chúng con coi, khuyến khích chúng con đi theo thầy trên đường hạnh phúc".

Đã đọc: 655


Đăng nhập

Nhớ cookie?

Quên mật khẩu
Đăng ký mới

Hình thành viên


nguyenthiducquy ...

Bài Mới Đăng
CN 4 PS A: Mục tử nhân lành
CN 4 PS A: Cánh cửa cho đoàn chiên
CN 3 PS A: Khi khó khăn Chúa luôn đồng ...
CN 3 PS A: Chúa vẫn luôn đồng hành
CN 2 PS A: Bình An Cho Anh Em
CN 2 PS A: Lòng Chúa thương xót trong Kinh ...
CN 2 PS A: Thương xót, tha thứ và tìm lại
Phục Sinh: Ba nẻo đường dẫn tới ngôi ...
Lễ Lá năm A: Nỗi đau bị phản bội
Lễ Lá năm A: Thiên Chúa cho chính cái ...

Nghe nhiều tháng 04
Chúa Hiển Dung: Biến đổi
CN 24 TN C: Yêu thương
CN 2 PS A: Bình An Cho Anh Em
CN 16 TN A: Cỏ lùng và lúa tốt
Các Tổng Lãnh Thiên Thần Micaen, Gaprien ...
CN 2 PS A: Thương xót, tha thứ và tìm lại
Cái nhìn
CN 2 PS B: Tin Đức Kitô phục sinh
CN 11 TN B: Để Lời được lớn lên
CN 4 MV B: Cùng Mẹ đón Chúa

Đọc nhiều tháng 04
Gã hành khất và hai người thầy giáo
Kẹt xe
Tại sao chết?
Hãy cảnh giác trước lời nói của phụ ...
Vào cửa sau
Nó là bạn cháu
Bài học cho tình bạn
Chiều vợ
Khôn ngoan của nhà doanh nghiệp
Xưng tội


Album mới

 CN 4 Phục Sinh năm A 4

 CN 3 Phục Sinh năm A 3

 CN 2 Phục Sinh năm A 4


  Dòng Đa Minh Việt Nam
  Vietcatholic
  Kinh Thánh Các Giờ ...
  Gx. Đa Minh
  Dòng Đồng Công
  Công Giáo Việt Nam
  Tuổi mực tím

Trang chủ -|- Thành viên -|- Hướng Dẫn Sử Dụng -|- Tìm Kiếm