 Emmanuel Lê Văn PHỤNG, sinh năm 1796 tại Ðầu Nước, Cù Lao Giêng, Trùm họ, xử trảm ngày 31-7-1859 tại Châu Ðốc dưới đời vua Tự Ðức, phong Chân Phúc ngày 11-4-1909 do Ðức Piô X, kính ngày 31-7.
Cố chính Borelle rất quen biết vị anh hùng tử đạo trổi trang của họ đạo Cù Lao Giêng, tức là ông trùm Emmanuel Lê Văn Phụng, đã viết bài tường thuật về cuộc đời của ngài rất tỉ mỉ và bài tường thuật được đăng trong tập san của hội Truyền Bá Ðức Tin số 33 năm 1860. Sau đây là bài tường thuật đó.
Emmanuel Phụng, 62 tuổi, trưởng gia đình đông con và giầu có. Không được học hành cao nhưng ông rất thông minh. Tính tình cả quyết, vóc dáng hiên ngang khoẻ mạnh. Mới trông ai cũng cho là một ông tướng chỉ huy.
Chính đức tin sâu xa làm cho đức tính của ông trở nên dịu dàng và được mọi người yêu kính, ngay cả những người bên lương.
Ông là một hiệp sĩ không biết sợ, đầy tin tưởng vào Thiên Chúa và vào khả năng của mình. Vì thế ông cho xây nhà thờ ngay trên mô đất cao nhất của mình, và bên cạnh là tu viện con cái Ðức Bà Maria, nhà cha xứ và chủng viện. Không phải là ông không nhìn thấy những nguy hiểm có thể xảy ra.
Không đêm nào ông ngủ mà không canh chừng, hay đi tuần phòng để các thừa sai và nữ tu được yên giấc. Khi mọi người lo sợ lúc có báo động thì mình ông là người điềm tĩnh. Tôi đã ở với ông ba năm trời trong nhiều thời kỳ khác nhau mà chưa khi nào thấy ông hoảng hốt báo động sai lầm. Ðã có năm thừa sai trú tại nhà ông, tất cả đều nhận xét như vậy, và gọi ông là bánh nuôi sống hằng ngày.
Ngoài ra ông có lòng muốn họ đạo có những lễ lạy công khai và muốn có linh mục ở trong họ đạo luôn, nếu vắng trong dịp lễ thì ông đi tìm cha ở họ đạo bên cạnh, khi không được thì ông buồn chảy nước mắt. Nhiều lần tôi đã phải cản ngăn vì lợi ích các họ đạo khác. Ông còn nhiệt thành lo tìm linh mục cho các bệnh nhân sắp chết. Một điều đặc biệt là mỗi khi ông giảng nghĩa giáo lý cho trẻ em thì mọi người im lặng lắng nghe và chính ông nhẫn nại giảng giải tỉ mỉ. Ðó là công việc ông rất ưa thích.
Ngoài những đức tính trên ông còn có lòng thương người đặc biệt. Trong thời kỳ dịch tễ, ông mua chiếc ghe riêng để chở cha đi các họ đạo ban bí tích cho những nguời hấp hối. Một hôm ông đến họ Bò Ót có một nguời Công Giáo giầu có vì cho vay nặng lãi, ông Phụng đã khuyên người sắp chết: "Nếu ông muốn hối cải thì phải xé các giấy nợ đi, rồi tôi sẽ mời cha đến ban bí tích tha tội giao hòa với Thiên Chúa".
Người bệnh đã nghe theo và làm như lời ông nói, sau đó chết êm ái.
Khi còn trẻ ông đã được đức cha đặt làm giảng viên giáo lý cho họ đạo, về sau thấy lòng tận tụy của ông, Ðức Cha Lefebvre đã đặt ông làm giảng viên giáo lý cho cả tỉnh Châu Ðốc. Những việc của ông làm quá rõ ràng khiến nhiều người tố giác với quan, nhưng ông đã khéo léo thu xếp với quan huyện để mỗi lần có cuộc lùng xét thì được báo trước để cất giấu các đồ đạo, và khi quan đến khám được đãi ăn và không thấy đồ đạo thì làm bá cáo dân ở Cù Lao Giêng vẫn tuân giữ luật phép nhà nước. Nhờ thế dù trong thời cấm đạo ngặt họ đạo vẫn có thể tổ chức lễ với đuốc sáng ban đêm.
Từ năm 1855 ông đã nhận Thừa Sai Pernot về nhà, sửa sang nhà thờ và học viện. Có hai anh em bên lương chuyên hút sách và bài bạc tên là Trần Văn Miêu và Trần Văn Nên muốn lợi dụng cơ hội làm tiền, đến nói với những người đang làm nhà thờ rằng họ vi phạm luật nước. Ông Phụng vì được quan huyện bao che không thèm để ý đến những lời của hai tên làm tiền này, tuy nhiên chúng nín nhịn chờ khi công việc xong sẽ tố cáo cấp trên. Quan tỉnh sai quan huyện điều tra nhưng mọi việc vẫn êm xuôi.
Hai tên bất lương lại rình cơ hội khác. Một đêm sáng trăng Cha Pernot ra khỏi hầm trú để đi bách bộ ngoài vườn bị hai tên này trông thấy được, chúng liền đi lên tỉnh tố cáo nhà ông Phụng có chứa chấp đạo trưởng, có nhà dòng, nhà thờ và chủng viện, chúng cũng xin quan tỉnh đừng sai quan huyện đến điều tra nhưng phải đem lính tỉnh về bắt. Ðêm ngày 7-1-1859, quan tỉnh sai lãnh binh mang 300 lính đi 15 chiến thuyền đến họ Ðầu Nước. Ðược tin báo, ông Phụng không dè là lính trên tỉnh nên không kịp cất dấu các đồ. Khi lính đã tới đầu làng lúc các viên chức trong họ đang họp, ông biện Vi chỉ còn kịp đưa Cha Pernot đi trốn còn lại Cha Quí. Quan bước vào nhà ông Phụng hỏi ai là Lê văn Phụng.
Ông Phụng đứng ra nói: "Chính tôi đây".
- "Người Tây Phương, đạo trưởng Giatô đâu?"
- "Ðạo trưởng Tây không có ở đây".
- "Không hồ nghi gì, tôi biết chắc ông chứa chấp đạo trưởng".
- "Thưa quan, quan có đông lính cứ việc cho họ đi lùng xét, ngài sẽ thấy không có đạo trưởng Tây".
Quan nổi nóng quát: "Vậy đạo trưởng đâu?"
Lúc này Cha Quí đứng ra xưng mình là đạo trưởng, còn không có đạo trưởng Tây nào cả. Quan cho lệnh bắt trói Cha Quí và ông trùm Phụng và 32 người Công Giáo trong họ.
Trên tỉnh, ông bị điệu ra trước mặt quan, bắt đầu cuộc tra vấn:
- "Ông có phải là Công Giáo không?"
- "Thưa phải".
- "Ông có phải là trùm trưởng không?"
- "Thưa phải".
- "Ông có muốn nghe theo lệnh vua truyền mà bỏ đạo để được trả tự do không?"
- "Bẩm quan, tôi giữ đạo Ðức Chúa Trời từ nhỏ, nếu quan thương thì tôi được nhờ, nhưng tôi không bao giờ chối đạo".
Quan không hỏi thêm, truyền lệnh đóng gông và xích đem giam ông vào tù. Tất cả những lần hỏi sau ông đều một lòng can đảm thưa lại: "Tôi nhất quyết theo gương đạo trưởng".
Quan dụ dỗ: "Tôi trông mặt ông biết ông thuộc gia đình quyền quí và có khả năng làm lớn, vậy hãy đạp ảnh đi ta sẽ phong tước cho".
- "Thưa quan lớn, tôi đội ơn lòng tốt của quan, nhưng tôi nhất quyết giữ đạo cha ông truyền lại, tôi thà chết hơn là chối đạo".
Biết không thể ép buộc được, quan kết án ông phải thắt cổ vì tội chứa chấp đạo trưởng.
Theo lời khai của ông Phêrô Tam là con, thì trong thời gian bị giam giữ ông rất bình thản, không cho phép vợ con bỏ tiền ra chuộc, hay trả thù. Ông nói: "Ðừng trả thù những khốn khó cha phải chịu, Chúa đã muốn như vậy hãy để cha nhẫn nại chịu đựng".
Ông còn bảo con cái xé hết các giấy nợ, để không ai đòi nợ các con nợ hai lần và họ thấy chúng ta đối xử như thế này sẽ sốt sắng giữ đạo. Trong tù ông trùm cũng phân phát thuốc hút cho các bạn tù. Rất nhiều cha đến thăm và giải tội cho ông. Một lần ông được phép ra khỏi tù đi tắm, ra khỏi cửa thành thấy cột to, ông nói với ông thứ cùng đi rằng: "Nếu như tôi được trở về nhà tôi sẽ xây nhà thờ cột to như thế".
Án của triều đình về tới Châu Ðốc ngày 30-7-1859 và quan định thi hành vào ngày hôm sau. Sáng sớm quan cho gọi ông Phụng ra và dụ dỗ lần sau cùng. Ông Phụng cương quyết thưa: "Tôi giữ đạo của tôi, quan cứ việc đem đi giết".
Quan nói: "Vậy thì hãy đi đến pháp trường".
Người lính đi trước cầm tấm thẻ bài ghi như sau: "Lê văn Phụng, trước đây làm đầu trong làng, theo đạo Giatô, ẩn lậu sách vở đồ đạo trong nhà, đã xây nhà thờ để giảng đạo và đọc kinh, đã chứa chấp các đạo trưởng và cố chấp không chịu bỏ đạo. Vì vậy lệnh truyền phải coi Lê văn Phụng như phản nghịch và phải thắt cổ cho chết".
Hai chiến sĩ xưng đạo được đưa ra khỏi thành bằng cửa tả rồi đến Cây Mẹt, không xa thành bao nhiêu. Trông thấy con, ông trùm bảo về báo cho mẹ hay. Với những người đứng xung quanh tiễn đưa khóc lóc, ông nói: "Tại sao anh chị em khóc, anh chị em ở lại bằng an, hãy tuân giữ các lề luật giáo hội, hãy cầu nguyện sáng tối và hãy sống hòa thuận với nhau".
Trông thấy người cháu gái là Anna Nhiệm, ông trùm lấy thánh giá đang đeo, hôn kính rồi đưa cho cháu nói: "Ông không thể cho cháu vàng bạc của cải gì quí hơn là hình ảnh Chúa Giêsu. Cháu hãy mang trên cổ và giữ luôn, khi cha con phải đi nhập ngũ thì hãy ở lại nhà bà con kẻo con quên hết các kinh sớm tối".
Tới nơi xử, các con đến quì trước mặt ông, ông trăn trối: "Các con phải trung thành giữ đạo, hãy noi gương cha con đây, đừng thù oán hay kiện cáo những kẻ đã tố giác cha. Hãy mang xác cha về chôn ở Ðầu Nước cùng với xác Cha Quí".
Sau đó lý hình đóng cọc, đè vị anh hùng tử đạo nằm sấp xuống đất và cột tay chân vào các cọc. Tất cả sáu người tiến lại gần, hai người giữ đầu và người giữ lưng cho khỏi nhúc nhích, hai người cầm hai đầu giây chờ lệnh xiết chặt. Sau tiếng chiêng thứ ba, hai người lính xiết chặt hai đầu giây, đưa linh hồn người tôi tớ trung kiên về lãnh phần thưởng nơi Nước Chúa. Buổi chiều quan cho phép thân nhân đem xác về họ Ðầu Nước an táng trên nền nhà thờ, nơi từng ghi dấu tích đức tin và lòng nhiệt thành của vị trùm đạo hằng lo cho Chúa được vinh danh.
Đã đọc: 858 |