Antôn Nguyễn ÐÍCH, sinh tại Chi Long, Nam Ðịnh, Giáo dân, xử trảm ngày 12-8-1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 12-8.
Ông trùm Ðích, chính tên là Nguyễn Khiêm, sinh năm 1769 tại làng Chi Long xứ Nam Xang, tỉnh Hà Nội. Cha mẹ là người ngoan đạo, thấy họ Chi Long xa nhà thờ thì bỏ họ ấy mà đem con cái cửa nhà đến ở làng Kẻ Vĩnh, nơi có nhà chung, có các linh mục ở gần để tiện bề đi nhà thờ. Ông bà đến làng Kẻ Vĩnh và xin nhập làng Kẻ Vĩnh. Ông Ðích từ đó sinh sống tại làng này, ông lập gia đình với người làng Kẻ Vĩnh và sinh hạ được mười người con. Ông Ðích là người hiền lành thật thà từ nhỏ, chẳng hề cãi mắng buồn giận ai bao giờ, ông không chửi mắng con cái hay nói năng đến vợ bao giờ. Ông cũng chẳng chơi bời, cờ bạc rượu chè mà chỉ chuyên chú làm ăn và giữ đạo. Trong gia đình, sáng tối cả gia đình đều đọc kinh chung với nhau không bao giờ bỏ. Có người đã đến trọ nhà ông, sau này kể lại là chẳng bao giờ trốn được đọc kinh với ông ấy. Về vấn đề đi dự lễ, ông bắt chẳng những con cháu và người nhà phải đi lễ Chúa Nhật mà cả lễ ngày thường, chỉ để lại một hai người ở nhà coi nhà mà thôi. Chính ông làm gương cho vợ con, ông đi lễ hằng ngày và cầu nguyện sốt sắng. Ông ăn chay suốt mùa chay. Hằng ngày ông lần hạt rất nhiều lần.
Ông dạy bảo và giáo dục con cái cẩn thận chẳng nuông chiều con cái. Dù con cái đã lớn khôn hay đã có vợ con, ông vẫn tiếp tục coi sóc răn bảo. Có đứa con nào cứng cổ cứng đầu thì ông đánh đòn răn bảo, chẳng nuông chiều một đứa nào. Các con cái ông nhờ được ông giáo dục mà sau này nên người không một ai hư hỏng. Các con đều có lòng đạo đức như ông. Một gia đình mà có bốn người được phúc tử vì đạo. Con trai ông là ông Lý Thi sau này cũng tử vì đạo dưới thời Tự Ðức năm thứ 11, tại Nam Ðịnh. Một người con khác tên là ông Phó Nhâm chẳng chịu bỏ đạo bị đày lên Cao Bằng và chết rũ tù ở trên đó. Con rể ông là ông Lý Mỹ cũng chịu tử vì đạo với ông. Trước mặt kẻ ngoại thực là một thảm cảnh cho gia đình ông. Nhưng trước mặt kẻ có đạo, thực là một phúc Chúa ban cho ông và gia đình.
Khi con cái đã khôn lớn, ông lo liệu gia đình. Ông không đặt vấn đề giàu sang phú quý mà là lòng đạo. Người nào muốn cưới hỏi con cái ông phải đạo đức. Dù giàu có mà khô khan nguội lạnh ông cũng không gả con cho. Trái lại dù nghèo mà đạo đức thì ông cũng bằng lòng ngay. Chẳng những ông lo dạy con cái đạo nghĩa, mà còn lo cho con cái học hành. Trong nhà ông, ông nuôi thầy đồ để dạy chữ nghĩa cho con cái. Nhà ông cũng không phải nghèo hèn trong làng. Ông rất căn cơ mực thước chăm chỉ làm ăn, nên nhà không bao giờ thiếu thốn. Trong gia đình có con ăn đầy tớ, và ông đối xử rất công bằng. Ông chẳng mang tiếng xấu gì trong làng và cũng chẳng ai trách móc ông được điều gì. Dù ông mới gia nhập làng Kẻ Vĩnh, nhưng uy tín của ông rất lớn. Ông được xếp vào hàng huynh thủ trong làng. Con rể ông làm Lý Trưởng, sau này con trai ông là ông Lý Thi cũng làm Lý Trưởng.
Ông trùm Ðích có lòng kính mến các đấng các bậc tu trì. Ông hay gửi quà biếu xén nhà chung và làm phúc quần áo cho các chú các thầy. Ông chẳng tiếc công tiếc của với các vị tu trì. Có một năm trong nhà chung bị dịch tả, người chết rất nhiều, số còn lại ốm đau. Bấy giờ ngoài làng có một số người tình nguyện rước các thầy về nhà mình để phục thuốc và đôi khi chờ đến khi khỏe hẳn mới cho trở về nhà chung, ông trùm Ðích rước tám thầy về nhà mình để phục thuốc. Về sau, đức cha muốn bù tiền phí tổn cơm nước thuốc men cho ông, nhưng ông không chịu nhận. Lúc bị cấm đạo các thầy phải tản mát các nơi, thì ông chứa chấp các thầy tràng nhất (các chú đang học lớp 12) tại nhà ông chừng hai năm. Quả thật can đảm! Vì có sắc chỉ vua ban ra, ai chứa chấp các đấng bậc mà ông bị bắt. Trước kia ông đã chứa Ðức Cha Dụ, rồi 3, 4 năm sau lại chứa Cha Năm. Thấy lòng tốt của ông, nên các đấng bậc rất tin tưởng thường đi lại nhà ông. Riêng Cha Năm đối xử với ông như anh em ruột vậy. Có lẽ Thiên Chúa đã tiền định để cho đôi bạn quý này được cùng chịu khó vì Chúa với nhau. Ông có lòng thương kẻ khốn khó, nhất là những người bị bệnh phong cùi. Ông thương họ cách đặc biệt. Ông thường đến an ủi giúp đỡ họ và khuyên bảo họ vâng theo thánh ý Chúa. Người ở trại phong thường cậy ông mua và lo liệu mọi sự cho họ. Ông trùm Ðích chẳng bao giờ làm trùm họ, nhưng vì lòng đạo, tư cách của ông cũng như vì tuổi tác mà giáo dân đã kính trọng ông và gọi ông là ông trùm.
Ít lâu trước khi ông Ðích bị bắt, có hai người tên là Tỉ ở làng Ðông Mạc, và Xuân ở làng Tiểu Tức Mạc thuộc về huyện Mĩ Lộc, được các quan sai đến dò thám để bắt các đạo trưởng và các đồ đạo trong làng. Chúng đến nhà ông trùm và xin làm người làm thuê. Ông trùm và tất cả các người trong nhà và ngay cả người trong làng cũng không ngờ chúng là kẻ gian. Ông trùm Ðích không ngờ nên thuê chúng. Ở được ít lâu, chúng có đủ bằng chứng về Cha Năm lúc đó đang trú tại nhà ông Ðích. Chúng liền trở về tỉnh và báo cho cấp trên để vây làng bắt ông trùm và Cha Năm.
Bấy giờ Trịnh Quang Khanh đang làm tuần phủ Nam Ðịnh. Ông bị vua Minh Mệnh quở trách vì không bắt đạo hiệu quả, nên ông ra lệnh gắt gao buộc các thuộc hạ phải bắt đạo gắt gao hơn, có khi chính ông đích thân đi bắt đạo. Lúc này được tin quân dò thám về báo, ông chia quân lính làm hai ngả: đường bộ và đường thủy để bao vây làng Kẻ Vĩnh. Năm Minh Mệnh thứ 19, sáng ngày 3-7-1838 khi mặt trời vừa mới mọc, quân lính vây bốn mặt làng Kẻ Vĩnh. Ông tuần phủ đi thuyền đến bến Kẻ Vĩnh. Ông ngồi trên đình làng và truyền gọi lý trưởng là ông Lý Mỹ ra hầu. Sau đó ông ra lệnh cho các trai tráng trong làng từ 18 tuổi trở lên phải ra đình làng điểm mục. Ông cũng bắt ông Lý Mỹ phải làm tờ cam kết nếu bắt được các đồ đạo và đạo trưởng trong làng thì lý trưởng phải chịu trách nhiệm. Ðang khi tuần phủ ngồi tại đình làng, thì hai tên Tỉ và Xuân dẫn lính tráng tới bao vây nhà ông trùm Ðích. Chúng bắt được Cha Năm tại nhà ông trùm Ðích, nên cũng bắt cả ông trùm để nộp cho quan. Ra tới đình làng, quan hỏi ông Ðích có chịu bỏ đạo không? Ông không chịu. Quan truyền đóng gông ông Ðích và giải ra tỉnh cùng với Cha Năm và con rể ông là ông Lý Mỹ. Ðến tỉnh ông trùm cũng được giam cùng một chỗ với hai đấng kia.
Ðang khi ông bị giam ở tỉnh, quan gọi ông ra hầu tòa 4,5 lần và bắt ông bỏ đạo. Bắt ép không được, các quan lại khuyên dụ ông: "Ông đã già rồi, con cái cũng đã khôn lớn, có nhà cửa cả, ông hãy quá khóa mà về ở với con cái, thì chẳng vui hơn sao?"
Trước ông trùm Ðích nghĩ đến những hình khổ mình sẽ phải chịu vì đạo thì sợ hãi lắm, dường như muốn sờn lòng. Tuy nhiên Cha Năm, ông Lý Mỹ, ông Lý Thi và các con cái yên ủi ông, khuyên bảo ông xưng đạo vững vàng và chịu khổ ít lâu sẽ được Chúa thưởng công vì tử đạo là phúc đời đời, và để gương lại cho con cháu và bổn đạo mọi nơi. Con cháu xin ông đừng quá khóa, kẻo mang tiếng và sinh gương mù gương xấu cho những người khác và lại liều mình mất phúc Thiên Ðàng. Ông được những lời khuyên bảo và an ủi, thì mạnh dạn thưa với quan rằng: "Bẩm lạy quan lớn, về con cái thì mặc con cái, tôi đã lo liệu cho chúng nó rồi. Còn về Ðức Chúa Trời, đã có lẽ tự nhiên buộc tôi phải thờ lạy Người, có lẽ nào tôi lại dám bỏ Người. Quan lớn có tha thì tha, bằng chẳng tha thì chớ đừng ép tôi nữa".
Có một lần quan truyền khiêng ông qua ảnh chịu nạn: hai tên lính khiêng hai đầu gông, còn hai thằng lính khác thì kéo chân ông đạp vào ảnh, nhưng ông Ðích co chân lên, nên chân không chạm ảnh. Quan truyền đánh ông hai ba lần, nhưng khi quan toan đánh ông thì ông Lý Mỹ thấy cha già nên xin chịu đòn thế cho ông. Quan chấp nhận lời xin của ông Lý Mỹ nên không đánh ông, mà chỉ đánh ông Lý Mỹ. Hơn nữa thấy ông già lão quan cũng không muốn đánh, và cũng chỉ bắt đeo gông nhẹ mà thôi.
Ông trùm Ðích không phải đòn vọt, nhưng ông thấy con rể chịu đòn thế mình thì thương con lắm. Có lần thấy con rể bị quan đánh dữ quá, và khi ông Lý Mỹ về tới nhà giam nát cả thịt, máu me chảy ra chan hòa, thì ông trùm nói rằng: "Các quan đánh dữ quá thế này thì con chết mất, chẳng có lẽ nào sống đến ngày xử được".
Trong hơn một tháng phải giam, ông trùm Ðích siêng năng đọc kinh cầu nguyện. Ông xin Chúa ban ơn giúp sức để chịu khó cho nên. Ðừng kể việc đọc kinh chiều sớm với các bạn tù, mà ông còn đọc kinh riêng nữa. Ở trong tù, Cha Năm cùng ông và các bạn tù cứ đọc kinh to như ở ngoài vậy. Các lính canh ngục cũng làm ngơ không nói gì. Ông cũng xưng tội hai ba lần và chịu lễ ít là một lần. Những đồ ăn con cháu gửi ông đem phân phát cho những tù nhân cũng bị giam với mình.
Trong án ông trùm, các quan viết tâu vua như sau: "Tên Nguyễn Khiêm xưng ra rằng: 'Tôi 69 tuổi, quê ở làng Vĩnh Trị, có cửa nhà, vợ con và đầy tớ ở đấy, vốn theo đạo Gia Tô và quen biết đạo trưởng Mai Ngũ từ khi còn làm học trò theo tây dương đạo trưởng Giacôbê (Ðức Cha Leager). Khi mới có chỉ ra cấm nhặt đạo Gia Tô, đạo trưởng Mai Ngũ đi ẩn đâu thì không biết. Song đến tháng ba (âm lịch) năm nay đạo trưởng ấy đến xin trú nhà tôị Tôi nghĩ tình quen thuộc nghĩa thiết xưa nay thì cho trú, đến ngày 11-5 (âm lịch) các quan đến vây làng Kẻ Vĩnh, thì bắt được đạo trưởng Mai Ngũ ở nhà tôí. Tên Khiêm xin cam chịu tội, chẳng dám phàn nàn. Chúng tôi đã đòi nó ra công đường cùng ra sức dỗ dành khuyên bảo và bắt khóa quá nhiều lần, nhưng mà tên ấy nói rằng: 'Tôi theo đạo đã lâu, thà chết chẳng thà bỏ đạó. Vì vậy chúng tôi xét rằng tên Khiêm tin theo đạo Gia Tô dù triều đình đã nghiêm cấm đạo ấy, và nó cũng chẳng chịu bỏ. Chẳng những nó không bắt đạo trưởng Mai Ngũ đem nộp cho quan, mà lại còn chứa cùng giấu trong nhà mình. Dù chúng tôi đã khuyên bảo quá khóa nhiều lần nó cũng không chịu xuất giáọ Vậy tên ấy cố tình bất tuân quốc pháp đã rõ, cho nên chúng tôi luận cho nó phải xử trảm quyết để kẻ khác biết mà sợ".
Án ông được gửi về triều đình, và ngày 11-8-1838 vua Minh Mệnh châu phê y án. Ngày hôm sau, ông và Cha Năm cùng con rể là ông Lý Mỹ bị xử trảm. Trên đường đi đến pháp trường, ông, Cha Năm và ông Lý Mỹ rất vui vẻ.
Khi đến pháp trường, Cha Năm quỳ xuống cái chiếu mà ông Lý Thi con ông trùm Ðích đã trải sẵn. Ba đấng cầu nguyện một lúc, sau đó quan giám sát dịch loa, tuyên án. Quan truyền xử Cha Năm trước rồi ông trùm Ðích sau. Sau hết đến ông Lý Mỹ. Lý hình chém một nhát thì đứt đầu ông.
Sau khi xử tử ông trùm, ông Lý Thi được phép bỏ xác cha vào trong quan tài và khiêng về làng Kẻ Vĩnh. Dân làng ra đón rước xác ba đấng như đi rước, họ đốt đuốc và đóm để nghênh đón xác các ngài. Xác ông trùm được đem về nhà, và để ở nhà 5,6 ngày, sau đó xin cha làm lễ quy lăng và làm phép xác. Cả làng và các làng chung quanh đều đến rước xác ra chung quanh làng trọng thể lắm rồi mới đưa về táng trong vườn trước cửa nhà ông. Về sau con cái xây mộ ở đấy. Năm Tự Ðức thứ 11, khi phá làng Kẻ Vĩnh, quan thấy mộ ông trùm Ðích thì ngỡ rằng bên trong người ta giấu vàng hoặc của cải trong đó, liền truyền quật mộ của ngài lên. Song khi cắt ván thiên ra, quan chẳng thấy gì trừ hài cốt của ngài, thì lại bỏ đấy. Về sau, khi bốc mộ thì thấy nước trong quan tài trong vắt như nước mưa.
Đã đọc: 768 |