 François-Isidore GAGELIN Kính, sinh năm 1799 tại Montperreux, Besançon, Pháp, Linh Mục, Hội Thừa Sai Paris, xử giảo ngày 17-10-1833 tại Bãi Dâu dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 17-10.
Vị thừa sai Pháp đầu tiên đổ máu đào để củng cố đức tin trong lòng giáo hội Việt Nam là cố chính Gagelin, tên Việt là cố Kính nhưng vua lại đặt cho ngài một tên khác là Tây Hoài Hoa. Cố Phanxicô Isiđoro Gagelin sinh ngày 10-5-1799 tại làng Montperreux thuộc địa phận Besancon, nước Pháp. Cha mẹ làm nghề nông, rất đạo đức và có uy tín trong làng. Ngay từ nhỏ cậu Gagelin đã có ý muốn làm linh mục đi giảng đạo ở các nước xa xăm. Một hôm trời mưa, chị cậu mang áo mưa đến thì cậu đã trả lời: "Ðể em tập chịu khó cho quen, sau này có thể đi giảng đạo cho người ngoại đạo".
Cha sở đã chọn cậu và gửi vào trường riêng để học và năm 1817 vào chủng viện học lý đoán ở Besancon. Sau hai năm, Thầy Gagelin được chịu chức Cắt Tóc, gia nhập hàng giáo sĩ. Tiếng Chúa thôi thúc thầy quyết định đi truyền giáo. Thầy về nhà nói cho mẹ hay. Bà khóc lóc khuyên con bỏ ý định đi xa để mẹ một mình ở nhà. Nhưng Thầy Gagelin can đảm thưa mẹ: "Con rất yêu quý mẹ, nhưng nay Chúa gọi con đi giảng đạo, mẹ có dám can ngăn thánh ý Chúa không?"
Năm 1819, thầy vào chủng viện truyền giáo Paris để thử ơn gọi truyền đạo. Ngày 24-5-1820 bề trên vui mừng cho thầy chịu chức Năm và chỉ định thầy đi sang truyền đạo tại Việt Nam và ở đó sẽ được chịu chức linh mục. Cuối năm 1829, thầy từ giã quê hương lên đường truyền giáo, lúc đó mới có 21 tuổi xuân.
Ngày 17-5-1821 chiếc tầu La Rose chở Thầy Gagelin và đại sứ của Pháp tại Việt Nam, ông Chaigneau, tới cửa bể Thuận An. Vua Minh Mệnh ra lệnh kiểm soát gắt gao không cho thừa sai xuống, nhưng tối hôm 19-5, ba vị thừa sai đã được thuyền giáo dân Việt Nam lén đưa xuống bờ đến gặp Ðức Cha Labartette tại Cổ Vưu, Thầy Gagelin được chỉ định dậy học tại chủng viện ở Phường Rượu (An Ninh). Ngày 28-9-1822, ngài được thụ phong linh mục cùng với Cha Xuân và Văn ở họ Nhứt Ðông và tiếp tục dậy học tại chủng viện. Nỗi khổ cực tại xứ truyền giáo được ngài viết như sau: "Mỗi ngày chúng tôi chỉ có cơm và nước, như thế quí cha hiểu được rằng làm thừa sai rất khổ cực. Có lẽ các cha khuyên tôi phải hãm mình, đúng vậy, nhưng thừa sai còn cần sức khỏe để làm việc nữa".
Ðến giữa năm 1824 chỉ còn hai thừa sai ở miền Nam, Cha Taberd làm niên trưởng ở Huế, còn Cha Gagelin xuống miền Ðồng Nai, ở chủng viện Lái Thiêu. Năm 1827, vua Minh Mệnh ra lệnh tập trung các cha thừa sai, Gagelin, Marchand và Odorico dòng Phanxicô ra trình diện với Lê Văn Duyệt. Ông quan nghĩ rằng vua cần người thông dịch nên chỉ lựa các cha thông thạo tiếng Việt là Cha Gagelin và Odorico gửi về Huế. Năm sau, chính vị quan này về Huế vận động với vua Minh Mệnh để trả tự do cho các thừa sai. Cha Gagelin được tự do năm 1828, trở về làm việc ở Lái Thiêu, cha lần lượt ba lần đi thăm các giáo đoàn ở các vùng phụ cận đã ba năm không được gặp các cha, có lần cha đi xuống tận Hà Tiên. Năm 1829, Cha Taberd nhận được sắc làm giám mục, ngài chỉ Cha Gagelin làm cố chính. Cũng năm này có thêm Thừa Sai Cuenot mới tới từ Bắc Việt. Cha Gagelin làm cuộc hành trình ngược về mạn Bắc. Khi Vua Minh Mệnh ra sắc chỉ cấm đạo toàn diện đầu năm 1833, Cha Gagelin đang ở Quảng Ngãi và rất quen thân với quan đầu tỉnh. Ðược thông báo, cha trốn lên rừng. Về sau thấy giáo dân bị làm khốn vì mình, cha quyết định ra nộp mình. Cha cùng với chú giúp việc đến huyện Bồng Sơn tỉnh Bình Ðịnh để nộp mình cho quan tại đây. Sau khi bị giữ 40 ngày, cuối tháng 7, cha bị dẫn giải về tỉnh Quảng Nam, và từ khi hai chú giúp cha chạy trốn, cha phải đeo gông nhẹ. Ngày 23-8-1838 cha tới kinh đô, bị giam tại trấn phủ. Từ đây cha chia sẻ những khổ cực, đói khát, hành hạ của nhà tù: phải tự liệu thức ăn, ban đêm phải cùm chân và cứ tới phiên đổi canh thì bị điểm danh và chịu một đòn đánh.
Tại kinh đô có Cha Jaccard và Odorico cũng bị bắt nhưng giam lỏng ở cung quán, có thể đến nhà tù thăm Cha Gagelin. Ngày 11-10, Minh Mệnh sai linh gác ở nhà tù và triệt để cấm không cho gặp một ai. Lúc mới đầu mọi người nghĩ cha tự nộp mình thì sẽ được ở cung quán như hai thừa sai khác. Ðến tháng 10 có tin đồn là cha sẽ phải đi đầy vùng Xứ Ðoài, Tây Bắc Việt. Ngày 12, Cha Jaccard báo cho ngài biết là ngài bị kết án tử vì dám dời bỏ Ðồng Nai là nơi vua Minh Mệnh cho phép ngài được ở. Tin này đã làm cho ngài tràn ngập vui mừng. Ngay từ bé ngài đã mơ ước được chịu chết vì đức tin, và đã cầu xin mỗi khi cha dâng Máu Thánh trên bàn thờ. Ngài nhờ Cha Jaccard chuyển lời từ biệt đến Ðức Cha, các cha ở chủng viện Paris và gia đình, ngài không quên trối lại các đồ dùng của ngài ở Phú Yên, Qui Nhơn và Quảng Ngãi. Sau cùng ngài viết: "Tôi sắp bỏ thế gian này không luyến tiếc một sự gì. Nghĩ đến việc được nhìn thấy Chúa Giêsu chịu đóng đinh làm tôi vui sướng hơn là sợ cái chết đau thương. Nguyện ước của tôi là được ra khỏi thân xác tội lỗi này sớm hết sức và có thể được kết hợp với Chúa Giêsu trong nơi hạnh phúc bất diệt".
Cha Gagelin bị giam tù và kết án mà không có một phiên xử nào. Ngày 17-10 lúc 7 giờ sáng, quan đến báo cho ngài biết ngài bị giải về Thừa Thiên. Lúc ấy cha vừa đọc kinh sáng xong, liền mặc áo, thắt khăn ra khỏi tù đi theo đội lính 30 người cầm gươm giáo sẵn sàng. Cha hỏi họ: "Ðem tao đi chém sao?" - "Ðúng vậy". - "Tao không sợ nghe!"
Thứ tự đoàn người đi như sau: 4 tên lính cầm gươm nâng 4 đầu gông, hai người khác đi trước và sau ngài, những lính còn lại vẫn cầm giáo đi hai hàng hai bên, sau cùng là hai quan cỡi ngựa giám sát vụ hành quyết. Họ đi về phía cửa thành, qua cây cầu đến chợ. Một người lính quát loa bố cáo rằng: "Tây dương nhân chi Tây Hoài Hoa, địa phương truyền thọ Gia Tô tà giáo vi nhân nã hoạch phương an xử giảo quyết". Dân chúng đứng chung quanh hỏi nhau: "Người này đã làm gì mà tại sao giết người vô tội, một người can đảm như thế? Hoàng Ðế đúng là một ông bạo chúa". Thấy cha bước đi hiên ngang vui vẻ, họ nói: "Có ai đã thấy một người đi chịu chết với vẻ điềm tĩnh như thế?" Mỗi lúc một đông người đến xem. Tới Bãi Dâu, nơi hành quyết, đã có một tấm chiếu trải sẵn, Cha Gagelin quì gối, lý hình cởi áo rồi trói hai tay vào cọc ở sau lưng, sợi dây thòng lọng cuốn chung quanh cổ và buộc vào cọc hai bên, mỗi bên có 5 người lý hình cầm giây sẵn sàng chờ lệnh để kéo giây. Sau khi được xiết mạnh 30 lần, sợi giây bị đứt nhưng Cha Gagelin đã về với Chúa, đầu ngả về một bên. Lý hình đốt chân làm chứng đã chết. Các quan và lính rút lui cho phép một thầy giảng đem xác xuống thuyền của quan thông ngôn Micae Khoan. Lúc ấy là 10 giờ sáng. Thuyền chở xác tới phủ Cam đã có Cha André chờ sẵn để làm các phép chôn cất. Xác Cha Gagelin được mặc áo lễ chôn cất trong vườn Phú Cam. Ông vua bạo chúa bán tín bán nghi vào lời Phúc Âm về việc người chết sống lại, ngày 18-10 ra lệnh các quan lấy xác lại. Sau cùng giáo dân phải đào xác lên, lột bỏ các áo chức và gói vào chiếu đem đến nghĩa địa chung ở Phủ Cam rồi báo cho quan. Quan cho khám xét và làm chứng xác không sống lại, rồi để nguyên tại chỗ thay vì chặt đầu và đem đi các tỉnh như đã dự định.
Hai vị quan phủ Thừa Thiên là Trần Tu Ðịnh và Trần Quang Tâm đã làm tờ trình vào năm Minh Mệnh 14, ngày 5 tháng 9 Âm Lịch. Nội dung như sau: "Ngày 4 tháng này chúng tôi được lệnh của bộ hình kết án Tây Hoài Hoa đã đi nhiều nơi gieo rắc tà đạo và còn táo bạo lấy sắc lệnh mật. Lệnh ngày mùng hai của Hoàng Ðế truyền xử giảo Tây Hoài Hoa. Lệnh được giao cho phủ Thừa Thiên thi hành. Ngày mùng 5, một quan phủ Thừa Thiên cùng với quan Viên Ngoại Huỳnh Văn Hiên của bộ hình và binh lính dẫn tù nhân Âu Châu đến pháp trường. Hai quan Trần Quang Tân và Huỳnh Văn Hiên đã theo 30 lính có trang bị khí giới đến nơi gọi là An Quan thuộc huyện Hương Trà và xử tại đó."
Đã đọc: 1007 |