 Tôma Ðinh Viết DỤ, sinh năm 1783 tại Phú Nhai, Nam Ðịnh, Linh Mục, Dòng Ða Minh, xử trảm ngày 26-11-1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, phong Chân Phúc ngày 27-5-1900 do Ðức Lêô XIII, kính ngày 26-11.
Thánh Tôma Dụ là linh mục bản xứ thuộc dòng Ða Minh. Ngài sinh tại Phú Nhai quãng năm 1783. Không thấy nói gì về đời thơ ấu của ngài, chỉ biết rằng ngài nhập dòng Ða Minh sau khi ngài đã chịu chức linh mục. Ngài khấn dòng ngày 21-12-1814, lúc đó ngài đã 31 tuổi. Ngài là linh mục đạo đức thánh thiện, ngài trội vượt trên đường ăn chay hãm mình đến nỗi các cha và các thầy dòng tặng cho ngài biệt hiệu thánh Bruno.
Trong cuộc đời mục vụ của ngài, ngài được đức cha cho bài sai coi xứ Ðông Xuyên và xứ Quất Lâm. Sau này ngài lại được bài sai coi xứ Liễu Ðề dưới thời Minh Mệnh bắt đạo. Trong thời kỳ này, một tên phản bội, tên là Lý Mỹ, đi ra Nam Ðịnh thưa với quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh rằng trong làng Liễu Ðề có Cha Liêm và nhiều linh mục ẩn tránh. Không chậm trễ, quan tổng trấn ra lệnh cho quân lính bao vây xứ Liễu Ðề ngày 20-5-1839. Quả thực trong xứ lúc đó có Cha Dụ và ba cha khác nữa. Ba cha truyền giáo may mắn tìm được chỗ trú ẩn. Phần Cha Dụ, lúc đó đang làm lễ tại nhà bà Agnes Thu. Cha biết không thể chạy tới chỗ trú ẩn kịp thời, và cũng không muốn liên lụy tới chủ nhà, cha liền bảo bà Thu đem giấu các đồ lễ: "Con hãy giấu các đồ lễ này đi vì nếu họ bắt được, con sẽ bị khốn khó. Cha sẽ cố gắng chạy trốn, nếu cha bị bắt cha sẽ bị kết án tử hình, tuy nhiên cha không muốn làm liên lụy đến ai cả. Con cho cha cái gì để cha cầm trong tay, như vậy họ sẽ không khám phá cha là linh mục, và cha sẽ chạy thoát".
Bà Thu đưa cho cha bộ quần áo nhà nông, và một cái chép, sau đó cha liền lẻn qua vườn nhà người hàng xóm tên là Ðỗ Quỳnh. Cha cúi xuống nhổ cỏ và làm vườn như một người nông dân. Lính tuần tiễu và quan quân đi qua đi lại nhưng vẫn không nhận ra ngài là linh mục. Bỗng đâu một tên phản bội, nhận biết ngài liền chỉ cho quân lính. Lập tức, lính vây bắt ngài, chúng trói tay ngài lại, đánh đập và điệu ngài về đình làng cho quan xét xử.
Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đích thân tra hỏi ngài. Ông quan khát máu này tỏ ra rất bực tức với người Công Giáo, nhất là các vị lãnh đạo tinh thần. Vừa trông thấy Cha Dụ, ông hống hách tra khảo: "Tên nghịch tặc, nhà ngươi làm nghề gì?"
Cha Dụ liền trả lời: "Tôi coi con chiên bổn đạo của tôi".
Ngài không muốn tiết lộ chỗ trú ẩn của Cha Liêm và các cha khác, dù quan tổng đốc dùng đủ mọi lời lẽ khuyên dụ và đe loi. Sau cùng tên bạo chúa truyền quân lính đánh ngài 21 hèo. Sách ghi lại rằng ngài không hề kêu than một tiếng dù với tuổi già sức yếu. Lúc đó ngài đã 56 tuổi. Tra tấn xong, quan tổng đốc truyền quân lính lục soát trong người của ngài, chúng chẳng thấy gì ngoại trừ cỗ tràng hạt mà ngài vẫn mang luôn trong mình. Quan càng bực tức, truyền bắt bà Thu, người đã chứa chấp ngài. Bà Thu bị phạt tù 24 giờ, nhưng ngày hôm sau được thả về. Hôm sau, đúng vào buổi trưa nóng bức của mùa hè, chúng bắt Cha Dụ ra phơi nắng, thân mang gông cùm, tay chân bị xiềng xích, sau đó giải về Nam Ðịnh và bị tống vào ngục thất.
Tại Nam Ðịnh quân lính hành hạ ngài đủ điều, nhưng ngài thà chết nghìn lần chứ không chịu phản lại đạo thánh Chúa. Chúng lại dụ dỗ ngài bằng nhiều hứa hẹn để xin ngài khai ra những nơi ẩn núp của các nhà truyền giáo và các giáo dân khác. Sau cùng chúng khuyên dụ ngài bỏ đạo bằng những lời ngọt nhạt cũng như đe dọa. Ngài vẫn một lòng kiên trung. Quan tổng đốc tức giận truyền quân lính đánh ngài 90 roi. Sau đó ngài lại bị trói và điệu về nhà giam. Ở đây ngài lại được dịp làm việc tông đồ cho những tội nhân đủ loại: trộm cướp, giết người, v.v.... Nhiều người đã tin theo ngài.
Sau đó ngài còn bị điệu ra điệu vào để tra khảo không biết bao nhiêu lần mà kể. Mỗi lần quan dùng một hình thức tra khảo khác nhau: nào hứa hẹn chức quyền, tiền bạc, nào đe dọa bằng những hình khổ càng ngày càng dữ tợn hơn. Có lần ngài bị đem ra phơi nắng, vai vẫn đeo gông nặng và chân tay vẫn bị xiềng xích, rồi đêm tối ngài lại bị ném vào trong ngục thất lạnh lẽo. Hầu hết lần nào ngài cũng bị đánh đòn, có lần 20 roi, có lần 30 roi. Có lần quan giận quá, vừa ra lệnh đánh đòn vừa nói đánh cho nó sáng mắt ra. Dĩ nhiên lần nào ngài cũng kiên trung, cương quyết nhất định không chịu quá khóa. Có lần bị hạch sách nhiều quá, ngài thưa lại với quan: "Tôi chẳng phải là trẻ con mà các quan cứ hỏi đi hỏi lại mãi làm chi. Tôi đã nói rằng tôi chẳng quá khóa, thì xin các quan cứ làm án cho tôi".
Ông Giuse Hiền kể lại có lần mẹ ngài giả làm bà ăn mày đến thăm con tại nhà giam, thấy con khổ sở quá, nhất là vai mang gông nặng, mẹ ngài muốn nâng đỡ ngài một chút. Ngài liền thưa với bà cố: "Con yếu sức phần xác thật, song vì Chúa Giêsu thêm sức, con xin chịu được. Chúa Giêsu xưa chịu khó vì tội thiên hạ, thì nay con cũng phải chịu một chút để bắt chước Ngài".
Ngài luôn luôn vui vẻ chịu đựng các hình khổ, không hề than trách một lời. Ngài còn nói với những người đến thăm viếng ngài là dù hình phạt gia tăng mà ngài lại thấy bớt đau đớn hơn trước. Ngài tâm sự với rất nhiều người lòng mong mỏi được chết vì đạo như có lần ngài nói với một người tới thăm viếng ngài: "Cha mong sự chết lắm nhưng chẳng biết bao giờ đến".
Lần khác ngài tâm sự với một người khác: "Cha chưa biết ngày nào sẽ được chết vì đạo, chẳng biết con có được trông thấy cha nữa chăng, cứ cầu nguyện cho cha được chịu mọi sự khốn khó cho nên, cùng bằng lòng mọi đàng".
Lần khác nữa, ngài lại bảo người khác: "Con cầu nguyện cho cha, nguyện Chúa ban ơn cho cha chịu sự khó để được vinh quang mà Ngài dành cho cha".
Sau 5 tháng trong tù và tra tấn, ngày 10-10-1839 lòng mong mỏi của ngài trở thành sự thật, các quan đã tuyên án xử trảm ngài. Khi ở trong tù ngài đã nêu gương sáng và giúp đỡ các phạm nhân, thì giờ đây được tin chết vì đạo, ngài rất vui mừng hoan hỉ. Bản án được gửi về kinh đô để vua phê chuẩn. Bản án của ngài cũng giống như các bản án của các thánh tử đạo khác: Tội theo đạo Gia Tô tà đạo, dù khuyên nhủ và đe dọa cũng như tra tấn mà vẫn không chịu bỏ đạo. Bản án kết luận: "Tên cứng đầu và ngỗ nghịch này phải trừng trị xứng đáng. Y đã bị trừng trị bằng những hình phạt nặng nhất. Ðáng lẽ bị phạt nó phải than trách, nhưng không, nó chẳng hề than trách..."
Bản án này được nhà vua phê chuẩn ngày 7-11-1839 và truyền hành quyết vào ngày 26-11. Chiếu chỉ của nhà vua như sau: "Ta đã xem án đạo trưởng Gia Tô tên là Ðinh Viết Dụ. Tên phạm này khi còn bé đã theo đạo trưởng tây Bường là danh trùm cả mà học đạo. Nó biết chữ tây, cũng biết danh trùm Hai và danh trùm Hiền là những kẻ đã bị xử rồi, chỉ có danh trùm Vọng là kẻ còn ẩn lánh. Vào tháng Giêng năm nay tên phạm này dám đem dấu đồ đạo ở nhà Nguyễn Văn Trinh và Ðỗ Cáp. Ðến tháng Năm, quan tổng đốc tỉnh Nam Ðịnh dựa theo lời tố cáo của dân đem binh đi vây nã, và bắt được tên phạm này. Ðem ra tra tấn thì thú nhận tất cả, nhưng không chịu bỏ đạo ấy. Còn như danh trùm Vọng trốn đi đâu, cùng ẩn náu ở đâu, thì tên phạm này là đứa mê muội, tối tăm, cố chấp không chịu nói. Vậy tên Ðinh Viết Dụ phải đem đi trảm quyết".
Vài ngày trước khi xử án Cha Dụ, một tin vui mừng rất lớn đến với ngài là Cha Ða Minh Xuyên, một linh mục cùng dòng đã bị bắt ít tháng trước tuy nhiên bị giam tại nhà giam khác, bây giờ lại bị giam cùng nhà giam với ngài. Cha Xuyên cũng bị biết bao nhiêu hình khổ, và tới lúc này ngài cũng đã có án xử. Hai đấng tử đạo, có dịp an ủi và khuyến khích nhau chịu khổ vì Chúa. Hai vị ban các bí tích cho nhau, nhất là bí tích giải tội. Một bà giáo dân đạo đức tên là Rose Trương, kể lại với các cha sau này rằng ít ngày trước khi hai cha bị xử án, chồng bà vào nhà giam để thăm Cha Dụ, ngài xin ông một miếng vải trắng, ông đã cho ngài. Nhận miếng vải, cha cám ơn ông và nói với ông rằng ngài đã có án tử và sẽ bị trảm quyết vào ngày 26 trong tháng, đoạn cha cho ông một miếng vải có thấm máu của ngài.
Ngày hành quyết đến, hai vị thánh tử đạo bị điệu đến nơi hành quyết, với đoàn lính nghiêm chỉnh và dân chúng theo xem rất đông. Một vị quan ngồi chễm chệ trên thớt voi thật lớn, theo sau có quân lính hầu và hộ tống. Hai vị tử đạo, vai đeo gông nặng, chân tay mang xiềng xích, bị đưa đến pháp trường Bẩy Mẫu. Nữ tu Maria cũng có mặt hôm đó đã kể lại chi tiết cuộc xử trảm của hai vị như sau: "Hai vị quỳ xuống, tay chắp lại, rồi ngước mắt nhìn lên trời. Lính dùng cưa cắt gông cùm và bẻ gẫy xiềng xích, rồi trói các ngài vào cột trụ. Chúng lấy nước rửa cổ các ngài. Tên lý hình giơ gươm lên, và chém đầu Cha Tôma Dụ. Ðầu Cha Dụ lìa khỏi xác và rơi trên đất. Tên đao phủ nhặt đầu ngài lên, và liệng trên không ba lần đoạn hô lớn: 'Ðầu tên linh mục tả đạo đã bị chặt đứt'".
Các giáo hữu, theo như thường lệ, chạy lại lấy xác và thấm máu các đấng tử đạo. Xác ngài được an táng gần đấy. Sau hơn một năm, vào tháng Giêng năm 1841 xác ngài được cải táng và chôn tại nhà trường Lục Thủy. Từ khi Ðức Giáo Hoàng phong Á Thánh cho ngài, hài cốt của ngài được đặt tại nhà thờ Phú Nhai cho mọi người tôn kính.
Đã đọc: 611 |